Vài Nét Tiểu Sử
Chi
nhánh dòng họ Đỗ Đăng tại Làng Hành Thiện ( Làng KEO) Page 1
Và
mối quan hệ giữa các chi nhánh họ --- Mở
rộng ;
Liên
hệ lịch sử và dòng họ ( Dã Sử)
**********************************************************.
Đặt vấn đề.
Trong
những năm gần đây , vấn đề Dòng họ được nhiều người quan tâm và có quan điểm
cho rằng chú trọng đến vấn đề dòng họ có thể sẽ khắc phục được vấn đề kéo bè
kéo cánh , cục bộ địa phương và nhất là hình thành những nhóm người liên kết với
nhau để tranh giành chia sẻ lợi ích cá nhân trên cơ sở cường quyền , quan chức
và vơ vét của cải ,vậ chất , tiền bạc của nhân dân và làm băng hoại , suy thoái
đạo đức nhân văn xã hội đồng thời phá hoại những thành tựu mà nhân dân và các
dân tộc Việt Nam đã từng đổ nhiều máu xương để có được ngày hôm nay , đõ chỉ vì
những cái gọi là tư duy theo Tư bản nhưng lại không có tri thức và hiểu biêt về
Tư bản ; cho nên dẫn đến đưa nước ta đi trên con đường suy thoái trầm trọng
trong bước đầu của biến thể diệt vong .
Tuy nhiên , đề cao vai trò của dòng họ cũng
không phải là tư duy đúng đắn , mà cần
phải thấy rằng việc tìm về nguồn gốc , dòng họ giúp cho ta biết mình có nguồn gốc
từ đâu và mối quan hệ , giao thoa chằng chịt trong xã hội phong kiến xưa kia
như thế nào đề mà nâng cao tính huyết thống , tính nhân văn đồng loại cùng nhau
xây dựng một đất nước , giang sơn ,tổ quốc ngày càng văn minh , tiến bộ làm cho
mỗi một gia đình một một người có một đời sống trong sang đầy đủ , hạnh phúc cả
về đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần ---- Đó mơi là ý nghĩa chính của
tìm về gốc gác cội nguồn của mỗi người chúng ta trong một dòng họ cụ thể .Nếu
biết về nguòn cội nghĩa là biết về tính nhân văn cuảng] ời ta và từ đó
nân ca tính cọng đòng à giảm bớt long tham lam , ngu muội vốn tiềm ẩn trong con
người.
Những việc cụ thể trong những nội dung sẽ được trình bầy tiếp theo là những
Tư duy , có tính nghiên cứu trên cơ sở liên hệ giữa các tài liệu mang tính lịch
sử cũng như những tình tiết nhỏ lẻ mang tính Dã sử của cá nhân mà nó có quan hệ
đến tính lịch sử dân tộc trong mối quan hệ về dòng họ và tạo thành những dòng họ
hiện sinh như ngày nay .
Có một sự tư duy nghiên cứu xuất phát từ cái
thiết thực về nhánh họ của tác giả , đồng thời là tư duy về những tư liệu lịch
sử đã có rải rác trên các tạp chí xoay quanh vấn đề lịch sử của đất nước qua những
giai đoạn lịch sử mà tác giả đã sống và phục vụ với tư cách một Trí thức trong
những vấn đề khoa học,khoa học kỹ thuật cũng như khoa học xã hội và đồng thời dựa
trên quan điểm duy vật cả về tự nhiên cũng như lịch sử cùng với phép biện chứng
trong mọi mối quan hệ ; từ đó rút ra những vấn đề giúp cho ai đó cần thiết
trong những vấn đề mà họ quan tâm ,tìm tòi .
Vấn đề mà tác giả đặt ra là phải có cơ sở lý
luận trong các phán đoán ,tư duy , liên hệ, chắp nối lịch sử ,không tể tư duy một
các suy diễn thiếu tính lô-gic làm cho phán đoán trở nên sai lệch và mâu thuẫn ,thiếu
sự hài hoà của một khách thể .
Bởi vậy,tài liệu này cũng chỉ có tính tham khảo
đối với những vấn đề có tính lịch sử chung của đất nước qua những giai đoạn của
từng thời kỳ lịch sử đã qua như là một phần rất nhỏ trong những vấn đề lớn của
lịch sử Việt Nam ,vấn đề Dòng Họ, nó
không phải là tài liệu mang tính nghiên cứu lịch sử mà có thể chỉ là tư duy,suy
nghĩ về.lịch sử mà thôi.Xoay quanh dòng họ và thời thế của mỗi thời kỳ lịchsử.
Xung quanh vấn đề
gia phả Page 2
Khi còn trẻ tuổi và khi còn đang mải miết với
nhiệm vụ , với mưu sinh của mỗi cá nhân thì hầu như vấn đề gia phả của gia đình
mình , dòng họ mình nó mờ nhạt và có lẽ ít quan tâm . Ngày nay , trong điều kiện
hoà bình trên mọi chốn quê hương đồng thừi sự tranh giành địa vị , tham quan ô
lại và đầy rẫy tham nhũng mỗi khi có chút quyền hạn và quyền lực trong tay thì
họ tận dụng để cho concháu,thuộc thân thuộc hạ của mình chất đầy túi tiền và chẳng
biết đồng tiền kiếm được bằng hành vi sach sẽ , chân chính hay bẩn thỉu mà người
ta từng chửi rủa đến ba đời cháu con và ba đời ông bà cha mẹ .
Nhưng cũng phải nói rằng : tất cả không phải là như vậy . Nói về xuất thân
và dòng họ thì có thể nói một tình tiết cỏn con ở một làng quê bé nhỏ . Trong dịp về ngày giỗ người anh rể , tôi về
quê và cũng là để tìm hiểu cặn ké thêm về nguồn gốc ,gia phả của cha của ông
mình thì có câu chuyện cũng đáng chú ý .
Một buổi tối mưa phùn , nhưng xóm ngõ vẫn đọng
nước và lội , làng xóm chìm trong yên lặng , tôi nhờ một cháu đưa đến nhà một
người trong họ mà trước nay các cháu và người làng nói không biết ở đâu vì theo
bước con cháu xa quê . nhưng việc cần tôi quyết đến nhà khi chỉ mới nửa buỏi tối
,chưa ai vào giấc ngủ ban đêm .Ngồi chuyện trò , nói về anh em trong họ của cha
ông , anh Thắng năm nay đã 69 tuổi rồi , nói với tôi rằng : Trong làng họ bảo
anh cần chuyển sang dòng họ Đặng vì dòng họ Đỗ nhà anh đã chẳng có tung tích gì
trong làng này. Anh nói rằng , khi chuyển đối sang họ Đặng thì phải có căn cứ cụ
thể rõ ràng mới được , chứ giờ thì làm gì có cái căn cứ nào . Người làng cùng lứa
tuổi họ nói thế vì cái làng Hành Thiện bé nhỏ này mà trên Internet họ gọi là
Làng KEO ,xóm nào cũng có từ đường các chi nhánh họ , nào là từ đường Chi họ đến
Từ đường chi nhánh gọi là “Đại Tôn” --Tức là anh cả và bao trùm chi nhánh họ
khác cùng một thuỷ tổ . hơn nữa , những từ đường có từ thời thuộc Pháp đã bỏ hoang
và thời xưa dùng làm chỗ cho trẻ nhỏ học chữ A,B,C thì nay cháu chắt có tiền ,
có kinh tế xây dựng lại và treo vào đó
gia phả ghi chép tên tuổi đến 5 đời tổ tiên. quả thật đó là một làng quê tôn trọng
nguồn gốc xuất xứ của mình từ cha ông tiên tổ . Và, anh Thắng nói rằng : Các
con cháu của anh nói rằng : có lẽ họ Đỗ của bố là đậu tương đậu nành bị nghiền
xay thành tinh bột hay sao mà ở làng này không có trong cái từ đường “Đỗ Đại
Tôn “. Do vậy việc tìm về nguồn gốc của anh quả là bức thiết cho bản thân và
cháu con . bởi lẽ người ta chỉ sống có nghĩa khi biết tổ tiên nguồn gốc của
mình mà không thể như loài lang sói hay loài hoang dã yếu đuối chẳng biết cha mẹ
mình là gì là ai , nghĩa là để sống cho thành người và có nhân văn , mà chính
cái nhân văn lại bắt nguồn từ gốc rễ , nó còn mang tính chất kế thừa , di truyền
và biến dị mà chính hiện nay học thuyết pap-lốp vẫn là học thuyết về sinh học
còn nguyên giá trị để chính cái giá trị đồng tiền cũng không thể lấp liếm vượt
qua và không thể dùng những thuyết về dòng máu để xác minh về sự sống và liên
quan người với người.
Từ những câu chuyện ấy làm cho ta nghĩ về
các dòng họ trong làng như Đặng Vũ , Đỗ Vũ … Về những từ đệm sau tên dòng họ .
Về vấn đề chữ đệm này thì :
Mấy năm trước ,tôi tìm về
ông Ngoại tôi --Nhị Giáp Đình Thí và làng gọi là Cụ Nhì Thuần , mình muốn tìm
hiểu xem ông ngoại đỗ đạt vào năm nào , thời nào của cái thời Ông Bền , Ông Kép
mà chưa có ông Tiến sỹ hay Tam nguyên Yên Đổ . Tìm về gia phả Họ Nguyễn giàu có
ở làng cũng không ghi đủ cái tên của ông ngoại mình trong khi nấm mộ ông còn đó
, trải gần trăm năm vẫn là nấm đất phủ đầy lên những hàng gạch xây tạm thuở chiến
tranh bom đạn và đập phá chùa chiền ở những làng quê miếu mạo đâu đó . Theo gia
phả xưa ấy ghi lại từng thời thì truyền lại với các tên đêm sau tên Họ có thay
đổi theo các đời hậu duệ sau như là : Đương—Văn – Duy –Quý--… chứ không phải chữ
đệm sau trùng vào tên Dòng Họ . Cho nên . Đặng Vũ , Đỗ Vũ … hoặc là Đặng Đỗ … đều
là một sự giao thoa các dòng họ đề duy trì Tên họ cho cháu chắt , hậu duệ đời
sau .
Ngược dòng lịch sử , chúng ta biết rằng , Thời
xưa Nhà Mạc bị chu di bởi thời Phong kiến ấy mà đã phải biến đổi tất tần tật ,
từ tên tuổi , tên họ , tên đệm và thậm chí cả tiếng nói và phiêu bạt khắp toàn cõi trên dẻo đất núi rừng
và những hạ lưu sông ngòi , đồng bằng bắc
bộ để tồn tại. Cho nên phải chăng : xuất hiện Dòng họ Đặng Vũ là từ nguồn cơn ấy và để tồn tại ,nhắc về dòng ,Nhà
họ Mạc thì đổi thành Họ Vũ và hoà vào dòng Họ Đặng mà thành Đặng Vũ , cũng tình
hình như vậy với dòng họ Đỗ Vũ ; cũng phải nói
thêm rằng , không phải chỉ Hành Thiện có Đỗ Vũ mà : những năm 80 của thập
kỷ trước ; khi tôi đã chuyển ngành về Nam Định thì gặp lại Anh Đỗ Vũ Hà là giảng
viên trường Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự Khoá 1 , chúng tôi gặp nhau trên thành phố
Nam Định vì Anh là Người Miền Nam nhưng vợ anh lại là người con gái trên thành
phố Nam Định , và có lẽ còn nhiều nhiều nếu chúng ta muốn làm một đề tài nghiên
cứu rất sâu về dân tộc và dòng họ Việt Nam cùng với vấn đề Xã Hội Học . Khi nói
đến những câu chuyện như vừa trên thì , cũng cần nói thêm một chuyện nhỏ thôi
nhưng cũng đáng nghĩ . Năm xưa tôi vào
Sài gòn và đến thăm chị tôi -- Chị con ông Bác Ruột ; trong những năm còn chiến
tranh thì gia đình chị ở Hà Nội sau ngày giải phóng sài gòn ,chị cùng gia đình
vào làm nhiệm vụ và sống ở sài gòn .Chị Em ngồi nói chuyện quanh câu chuyện họ
hàng gia tộc , bỗng chị nói với tôi là : Anh Hải cũng chính gốc là Họ Mạc chứ
không là Họ Vũ . Bấy giờ tôi mới biết thêm về những trường hợp cụ thể có trong
gia tộc nhà mình .
Ngày nay , sự thay đổi quan niệm về việc đặt
tên đã khác nhiều ; nếu ta thấy tên đêm trùng tên dòng họ thì đó là người ta,
người mẹ không muốn con cháu mình trong tên họ bị biến mất dòng họ mà người mẹ được
sinh ra và như thế có sự lấy tên đệm sau tên dòng họ là vậy ; điều này khác biệt
tên đệm ngày xưa không trùng tên bất cứ họ nào mà thường là theo quan điểm
phong kiến với những chữ viết sơ đẳng của Hán và Nôm về sau .
Hôm nay , nhà nước Việt Nam Hiện đại cũng
chú trọng về dòng họ và mộ chí , vì vậy mới đây trên VTV( Truyền hình—Thông tin
đại chúng Việt Nam) đã truyền đi chương trình ghi nhận di tích lịch sử củ Lăng Mộ
họ Đỗ ; video được ghi hình trong một buổi lễ long trọng và hoành tráng vào năm
2016 .
Cho nên,loại trừ những mục đích khác khi xây cất
khắp nơi , nhất là trên những nghĩa trang những lăng mộ của các chi nhánh các dòng họ rất tốn tiền
như tầm quốc gia , thì còn có điều đó là ngày nay có cuộc sống và có Việt Nam
như hôm nay không thể nào quên về cội nguồn gốc rễ của dân tộc mà cụ thể là những
Dòng Họ đã tạo thành một đất nước không
thể diệt vong.
Thông
thường ,theo tập quán người ta chỉ lập một phổ gia đình để ghi mối quan hệ giữa
các anh chị em cùng huyết thống và có thể cùng gien di truyền bởi đó nhân dân
ta , dân tộc ta gọi là “Tình Thâm” mà mọi người ,mọi cá thể trong xã hội phải
tôn trọng, không thể xem thường , đồng thời đó cũng là tạo thành một khối đoàn
kết vững trãi cho sự tồn vong của giống nòi , dân tộc . Vượt qua giới hạn đó là
tìm về cội nguồn khi đất nước , tổ quốc đã thăng trầm trải qua nhiều biến cố lịch
sử mà những biến cố đó làm ly tán thất lạc
những thế hệ nối tiếp của một dòng họ đã
dẫn chúng ta đến tìm hiểu sâu hơn , dài lâu hơn trong lịch sử ghi chép về
các dòng họ và cũng không ít dòng họ đã ghi chép đầy đủ qua từng đời từng thế hệ , tuy nhiên
không thể liên tiếp đầy đủ mạch lạc khi hàng nghìn năm thay đổi qua rất nhiều
triều đại phong kiến cũng như thực dân kiểu mới kiểu cú tràn vảo mảnh đất dài
và hẹp có một vị trí chiến lược trong quá trình phát triển của nhiều nước trên
toàn cầu ---Đất nước Việt Nam nhỏ bé được xem như một cái nôi của loài người .
Trong Làng Hành Thiện , tôi quan tâm chỉ
trong chi nhánh Dòng họ Đỗ và thấy rằng , các tộc phổ của các từ đường ghi được
đều chưa đầy đủ . Từ đường của chi họ Đỗ Đức Định ghi được tên đến 5 đời và sự phục chế thuộc đời thứ 6 , nhưng
trước đời Tổ tiên cũng không rõ , không ghi người thứ nhất của dòng họ , nhánh
họ gọi là Tiên sinh. Đến Tộc đồ (Gia phả) được gọi là dự thảo của Từ Đường “Đỗ
Đại Tôn” ghi được nhiều chi họ nhưng hầu
hết chỉ có tên mà thiếu tuổi , ngày sinh tháng mất .Ngay từ những ngày đầu ghi chép lại , tập hợp lại các gia phả đề
xác lập một phổ tộc nhằm từ đó tạo dựng một Từ đường như hiện nay cũng không đông đủ như dự thảo ngày
nay mà còn thiếu cá về chi nhánh cả về
ngày sinh tháng mất ; thậm chs khi về gặp ông chắp bút gia phả thì chúng tôi cần
nói : Anh em tôi là Cháu cụ XÃ Quanq,cụ Xã Chỉnh là con cụ Xã Quang mà không đọc
tên Đỗ Hữu Chỉnh , Đỗ Đức Quang, bởi đọc tên họ thì không ai biết ; điều đó
không đáng ngạc nhiên và là một sự thật mà chúng ta phải chấp nhận bởi những thừi
phong kiến,tháng năm chiến tranh , vệ quốc và mưu sinh của dòng họ cũng đã chịu
ảnh hưởng của việc ly quê lên đường trong những hoàn cảnh khác nhau mà không có
bút tích . Một gia phả của nhiều gia phả ghép lại cũng là một tư liệu để chúng
ta tìm về cội rễ gốc gác dòng họ khi mất nhiều công sức và đi tìm tư liệu trong
quá trình nghiên cứu nếu cần .
Tuy nhiên những Tư liệu từ Sài gòn gửi ra
như ông Đặng Đỗ Tốt khi ghi lại chi họ của mình đã để lại đã biết từ những người
tiền sinh đã rời khỏi làng Hành Thiện
vào lập nghiệp ở miền Nam Việt Nam .
Hơn nữa , ngày nay do mạng lưới thông tin
Internet cho nên tác giả có được trong tay tộc đồ ghi chép đầy đủ và cụ thể đến
10 đời và của một chi họ ghi được tới 22 đời tính đến người năm sinh 1970 kể từ
khi xuất hiện dòng HọĐỗ,được xem là thuỷ thổ gốc rễ của Dòng Họ Đỗ có gốc từ
Đan Phượng ; có thể nói : tộc phổ này có thể lấy làm cơ sở và căn cứ vì chưa có
một tộc phổ nào khác ghi đầy đủ như tộc phổ Dan Phượng . Ngay như trong lễ nhận
bằng ghi nhận di tích lịch sử --Lăng mộ họ Đỗ năm 2016 cũng không chỉ ra ngày sinh ngày mất của thế
hệ mang họ Đỗ Đầu tiên trên dải đất Việt Nam ( Trong tế lễ , diễn văn của ngày
lễ mà VIDEO ghi hình với thời lượng dài không có chi tiết ngày sinh,ngày mất
làm căn cứ cho ngày giỗ tổ tiên họ tộc).
Cũng có thể kể thêm để thấy được tấm long của
người tìm về gốc rễ cả ông bà.chuyện Ông Lê Văn Hoàn về quê tìm nguồn gốc ,họ hàng
của Bà Nội,Mấy an hem ông hoàn cùng vài con ,cháu về quê Hành Thiện để tìm gốc
tích bà Nếp mà xưa ka thường chỉgọi trheo tên chồng--- Bà Nếp còntên húy thù
không mấy hoặc khôngai biết ( lâu dần tên chônngf cũng là tên vợ ), về quê hỏi thăm làng xóm và tìm đến Từ
đơngf Họ Đỗ cũng không ai biết , chỉ nói lên Nam Định tìm gặp ông Đích là người
có viết gia phả về họ Đỗ thì có thể biết .Thế là , se lại ngược lên Thành phố
Nam Định và đoàn người đi tìm gốc tích của Bà nội tìm đến nhà Ông Đích , nhưng
tên bà Đỗ Thị Nếp lại là tên ông Nội , trong khi cháu chắt lại đi tìm người có
tên húy là Lạc; bởi vậy ,qua chuyện trò tìm hiểu thì chưa dám khẳng định là
đúng .Chừng 5 năm sau , ông Đích từ Sài gòn về Hải Phòng thì bất ngờ anh em Ông
Hoàn ra sân bay Cát Bi đón theo sự nói lại của ông Đặng Đỗ Chính ( cháu ong
Đích ) cũng ở Hải Phòng mà trước đó ông Đích đã hẹn cháu ra đón ở sân bay . Thế
rồi vài ngày sau khi ra Hải Phòng , ông Đích cunhfCháu và an hem con cháu ông
Hoàn lại cèng về Hà nội để gặp ông Đỗ Đăng Thâm(Tức ông Lê Thanh Bình)
Tại nhà ông Thâm –Hà Nội , qua chuyện trò ngơcj về quá khứ thì đi đến kết luận
: Bà Nếp là người con gái của chi họ cụ Xã Chỉnh –Hành Thiện ; tên Nếp à tên Chồng
–Ông Nếp , Bà Lạc đã đã rời làng Kiến thụy Kiến an cho tới thế kỷ này . Đủ thấy
, sự phân ly của các gia đình , nhất là con gái theo chồng cũng như các dòng hj
của cộng đồng người việt thuở xưa sinh song trên dải đất Việt Nam là như thế ào
, bây giờ ,trong thời đại hiện đại cubgx không thể không tìm về gốc tích của mình.
Từ những vấn đề nêu trên
đưa chúng ta đến một tộc đồ họ Đỗ là Chi Nhánh Đỗ Đăng làng Hành Thiện sẽ được
trình bầy trong phần sau . tác giả chỉ quan tâm những vấn đề có liên quan và tư
duy nghiên cứu về một chi nhánh của mình mà thôi , bởi chi nhánh Đỗ Đăng không
chỉ ở Hành Thiện mà còn Đông Triều --Quảng ninh cũng như ở Chợ Đường Cái –Hưng
Yên . và ở các nơi đó cũng chỉ ghi được gia phả đến 5 đời và đến hiện sinh cũng chỉ không quá đời thứ 7 tức là vào khoảng
chưa đầy 200 năm kể từ khi xuất hiện họ Đỗ .
Lời
người biên soạn năm 2017
Trang 45
Vài lời về
tiểu sử Tác giả .
________________________
Tác giả là
cháu út nội của ông Xã Chỉnh và Ông Nhì Thuần –Làng Hành Thiện, được sinh ra và
lớn lên ở Thành phố Nam Định , tuy vậy những năm tháng thơ ấu vẫn thường theo
mẹ về quê và trên quê quán của mình , tác giả đã học được nhiều ở bạn bè và
những nét đẹp của quê hương mình ‘
Thời thuộc Pháp , nhà nghèo nhưng vẫn được mẹ cố gắng cho học
và đã được học tiểu học ở trường làng
khi mẹ thất nghiệp về quê và rồi lên Thành phố học tiếp lớp 3 Trường con
gái nam Định là Trường Tiểu học Lê Chân thời thuộc Pháp , sau 1954 tiếp tục học
Đệ Thất và sau là Cấp II Nguyễn Khuyến Liên Khu III –Thành Phố Nam Định . tốt
nghệp cấp II liên khu III Tác giả học công nhân --Thợ Tiện do Bộ Công nghiệp
nhẹ mở tại Liên hợp Dệt Nam Định mà không lên Hà nội để học phiên dịch tiếng
Trung của Trường Trung cấp Kiến Trúc chiêu sinh .
Năm 1962 , Tác giả được gọi nhập ngũ làm nghĩa
vụ quân sự thuộc Hải quân V.N ; sau huấn luyện thủy thủ Cơ điện Hạm tàu tuần la
, tác giả được điều về Đoàn tàu không số và đợi tàu để đi B --- cơ điện hạm tàu
. do vì yêu cầu trước hết cần , cần thiết với các thủy thủy cơ điện của hải
quân bấy giờ .,tác giả được điều động xuống tàu vận tải biển phía Bắc; rồi sau
đó cũng do yêu cầu cần thiết trên bờ trong công tác bảo đảm sửa chữa , tác giả
lại được điều động lên trạm sửa chữa và tiếp theo là được điều động ra ven biển
xây dựng cơ sở mới sửa chữa tàu là X48 Hải quân bấy giờ và nay vẫn là X48 Hải
quân (Đơn vị Anh hùng LLVT) . Từ những ngày đầu tiên thành lập X48 rồi từ đó
được đơn vị và bộ Tư lệnh đưa về khóa 1 Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự V.N
( nay là học viện cùng tên ) . Tại trường sau
năm thứ 2 Tác giả đã được chọn để học và nghiên cứu trên Đại học ; tốt nghiệp
ra trường --Kỹ Sư Quân Sự, cũng do năng lực thực tế và trình độ ,tác giả được
điều động về cơ quan Cục Vật tư để thiết kế , xây dựng nhà máy cũng như các
công trình xây dựng lúc bấy giờ .Với thời gian công tác tại HàNộ tác giảđã
tranh thủ thời gian để theo học Đại học tại chức --Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà
nội –Pân iệu HaNoi và ôn lại tiếng Pháp tại trung tâm ngoại ngữ HaNoi .Sau 1975 , do yêu cầu phía Bắc , tác giả vẫn công tác trong Cơ quan Cục tại Hà Nội cho đến năm 1978 vì sự
điều động bất hợp lý đi khỏi Hà Nội nên Tác giả xin chuyển ngành và do không
sắp xếp được nên Tổng cục Kỹ Thuật cho chuyển ngành ;
Vì điều kiện hoàn cảnh bấy giở 1978 , Tác
giả từ chối ra công tác tại bộ Ngoại Thương và cũng từ chối ra công tác tại Ty
Lao động Hà Nội mà về lại Thành phố Nam Định và công tác tại Uỷ ban Khoa học và
Kỹ Thuật Tỉnh Hà-Nam-Ninh cho đến khi việc sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật và
Cán bộ Đảng viên của Đảng bộ tình cũng như Ủy ban Nhân dân Tình có nhiều vướng
mắc và sai chính sách ,pháp luật của Đảng và Nhà nước nên tác giả xin nghỉ hưu sớm vói ý nguyện chuyển sang hoạt
động và nghiên cứu về văn học nghệ thuật , Thường vụ Tỉnh ủy bấy giờ đã có
thông báo cho nghỉ nhưng không thực hiên được vì không thể bắt ép tác giả nghỉ
không theo chế độ chính sách bấy giờ , cho tới năm 1991 với 30 năm liên tục và tuổi quân chuyển đổi
thành 38 năm công tác với thời gian quân
đội cộng thêm 6 tháng hoặc cộng thêm 4 tháng và 2 tháng, tác giả nghỉ hưu với
chức danh chuyên viên và là Kỹ sư Trưởng của Ủy ban khoa học và Kỹ thuật
Hà-Nam-Ninh .
Vào những năm Ông Đặng Đỗ Tốt đã
nghỉ hưu và tác giả cũng đã hưu trí , với tâm nguyện của anh em là Cháu nội Ông
Xã Chỉnh muốn lập lại Gia phả của chi nhánh họ mà bao nhiêu năm trải qua thời
kỳ Phong kiến và thời kỳ thuộc Pháp của Việt Nam , chi nhánh họ của ông Đỗ Hữu Chỉnh đã phân tán trên ba bốn tỉnh của
Bắc Việt Nam và các con ông Chỉnh cũng mỗi gia đình một tỉnh , sinh sống và đi
theo cuộc các mạng giải phóng dân tộc qua hết các thời kỳ ,nay hòa bình và
thống nhất đất nước , mọi người nhận
thây cần phải viết lại , tìm về gốc tính của ông ca tổ tiên chung của anh em
dòng họ ; từ đó ông Đặng Đỗ Tốt ---Người lớn tuổi nhất (1925) đã từng hoạt động
trong ngành văn hóa và thời thanh niên dưới thời thuộc Pháp cũng đã từng sinh
sống thời gian dài trên quê hương gốc rễ , nên đã chủ động là người anh chính
của dòng họ tìm về quê để tìm hiểu gốc tích chi nhánh họ và viết những điều cơ
bản nhất của gia phả rồi lưu lại . Tiếp theo , khi ông Tốt mất ( 1999) tác giả
tự nhận lấy trách nhiệm viết hoàn thiện về gốc tích chi nhánh Ông Đỗ Hữu
Chỉnh--Tức Ông Xã Chỉnh để làm cơ sở gộc rễ cho các cháu con của mình và Chi họ
cho đến mai sau.
Đến nay việc tìm hiểu gần như không thể biết
cụ thể và chi tiết hơn được nữa , vì vậy lưu bút lại với tư cách “ Thi văn gia
tộc di cảo “ cho các cháu , con của mình mai sau không bị mất gốc , mất gia phả
mà không biết bản thân xuất tân từ đâu trong gia đình họ tộc nào mà những điều
đó cần để người ta lớn khôn thành người có ích , có nhân phẩm và tư cách trong
cuộc sống cùng cộng đồng dân tộc Việt nam .
Friday, May 12, 2017
Nhận xét
Đăng nhận xét