NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN
NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN
LỜI GIỚI THIỆU
Tập hồi ký này được biên soạn với tư cách tập hợp nhiều tập hồi ký khác
nhau của cácđồng đội __ Kỹ sư quân sự V.N – Cựu /sỹ quan Trung cao cấp và Tướng
.
Những trang hổi ký rải rác của người viết nhằm lưu lại những gì đáng nhớ
mà mình đã đi qua , bởi vậy không theo lo-gic thời gian . Các bài hồi ký được
sắp xếp và bổ sung chọn dần theo những
bài đã nhận được qua Mail __ mạng Internet . sự sắp xếp mang tính thay
đổi các nội dung đan xen nhau , không mang tính phân biệt cấp bậc ,cũng không
mang tính chất ý nghĩa văn học .
Người tập hợp biên soạn Đỗ Đăng Đích
B6- C 213 Khóa 1 học viện kỹ thuậtQuân Sự V.N
Nguễn Thanh Sơn , Lê Tùng
Sơn
Đỗ Thành Hưng , Đỗ Đăng Đích
Sau thư của Thiếu Tướng Nghiêm Sỹ Chúng
gửi các đồng đội C213 Khóa 1 Học viện Kỹ thuật Quặn V.N về việc viết hồi ký cho kỷ niệm 50 năm
thành lập học viện là cuộc họp mặt thường niên ngày 4 Tháng 1 năm 2015 tại Bảo Tàng Phòng
không –Không quân V.N __ HÀ NỘI ;
cuộc họp mặt này tuy không tổ chức hoành tráng như mong muốn của một
vài Đại Tá Đồng đội mà diễn ra như Nghiêm Sỹ Chúng nói: Là cuộc họp rất thân mật , đã là bạn
đồng liêu dù thầy trò , Cán bộ quản lý , Lãnh đạo , nhưng vì một
khóa rất đặc biệt ,cho nên chỉ cần có lời mời qua Điện thoại và
điện đàm hoặc qua mạng Internet là đồng đội từ 3 miền của tổ quốc
về hàn huyên gặp gỡ nhau vô cùng thân
mật không kể Tướng lĩnh hay cán bộ cao cấp , trung đại tá hoặc
Các cán bộ từng là Quân y, Bảo đảm của C 213 – Khóa thứ nhất năm
xưa --- Đã gần 50 năm trôi qua kể
từ ngày đầu tiên mang ba lô vuông về Hà Nội để thành lập Trường .
Tất cả , mỗi người một khác nhau trên
con đường Binh Nghiệp __ Kỹ Sư quân Sự V.N
-- Những Đảng Viên ưu tú của Đảng Lao Động Việt Nam đã đi hết ,
đi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cho đến ngày toàn thắng __
thống nhất đất nước và tiếp tục trên đường xây dựng Khoa học Kỹ
thuật quân sự V.N còn non nớt cũng như trên lĩnh vực Khoa Học Kỹ
Thuật trong khi Kinh tế đất nước gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt .
Tập Hồi
ký này chỉ là một phần nhỏ như
một khoảnh khắc cuộc đời người lính
, mà họ là những anh Bộ đội Cụ Hồ trong sáng , trẻ trung một
lòng vì đất nước quê hương và nối tiếp Truyền thống gia đình Cách mạng , gia đình trí thức giàu lòng yêu nước
và tài hoa , chân chính .___ Những mẩu chuyện dọc cuộc chiến tranh
trên hai miền Nam Bắc : chiến trường
và Thủ đô Hà Nội trong kháng chiến và trong hòa bình
NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN
Thay lời đầu và lời
tác giả
Cho toàn tập hồi ký
HÀ NỘI 2 013
Cho toàn tập hồi ký
HÀ NỘI 2 013
Lời nói đầu và lời tác giả .
Mỗi người chúng ta sống trên mảnh đất việt nam mà mảnh đất này__ một dòng Hồng Hà xuyên dọc nửa phần đất nước với một dòng Mê-Kông đổ ra Biển Đông bằng chín dòng sông xanh trong mà người xưa đã đưa lại cho tên gọi hôm nay –Cửu Long Giang . Mỗi người và từng người sống qua một thời nghèo nàn , cực khổ và oanh liệt qua mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc Việt Nam , một dân tộc với Văn minh Đồng bằng Sông Hồng ___ Cái nôi của loài người còn nguyên vẹn rừng nguyên sinh Cúc Phương với Động Người xưa trên lưng chừng vách núi Cúc Phương ; Đi qua trọn vẹn cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc V.N và những năm xây dựng tổ quốc ta trong hòa bình đều là những thiên tiểu thuyết cuộc đời con người mà những tác phẩm văn học chỉ thể hiện được từng nét, từng nét , mà rất khó có thể có một tác phẩm văn học nào lớn đủ cho nó .
Bởi vậy, những đoạn hồi ký của người ta tưởng như phi văn học , và của cá nhân ai đó ngỡ là không mấy giá trị , chỉ là của cá thể ai đó thôi , không , đó là những viên gạch đã được nung chín từ nắm đất sông Hồng để xây lên thành những tòa biệt thự văn học , những dãy nhà bảo tàng lịch sử dân tộc qua từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử Việt Nam .
Năm 2012 , cuối năm , sau một vòng tròn trên không ,dưới đất_ NamĐinh –Hà Nội –Sài Gòn –Hải Phòng –Hà nội –Nam Định, liên lạc với đồng đội –học viên Trường Đại học kỹ thuật quân sự Việt Nam Khóa thứ nhất –C213 tôi được nối lại sau nhiều năm không biết và cũng không ai biết tôi trôi nổi về đâu sau khi rời Quân đội từ hàng ngũ Sỹ Quan kỹ thuật Thủ đô về nơi chôn rau cắt rốn của mình .
Viết hồi ký này , có lẽ bắt nguồn từ ý tưởng củaTướng Nghiêm Sỹ Chúng . . Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu Tướng _Tổng cục Kỹ thuật Quân Đội Nhân Dân Việt Nam .
Gửi thư cho đồng đội vả tôi có được từ Email của Tiến sỹ Đại Tá Lê Kinh Tuyến Viện Nghiên cứu kỹ thuật quân sự V.,N cũng như vậy từ Tiến Sỹ --Đại Tá Nguyễn Nước Trường Đại học Kỹ thuật quân sự Trần Đại Nghĩa ( rường Kỹ thuật Quân sự Vin–Hem–Pích ) .
Xin chép ra đây toàn văn thư của Nghiêm Sỹ Chúng .
Và , có thể nói đó là điều cảm xúc và viết những trang hồi ký từ khi về trường Đại học cho tới khi về nghỉ hưu không ai biết đến .
Thư gửi các ban cựu học viên C213 ĐHKTQS
Mỗi người chúng ta sống trên mảnh đất việt nam mà mảnh đất này__ một dòng Hồng Hà xuyên dọc nửa phần đất nước với một dòng Mê-Kông đổ ra Biển Đông bằng chín dòng sông xanh trong mà người xưa đã đưa lại cho tên gọi hôm nay –Cửu Long Giang . Mỗi người và từng người sống qua một thời nghèo nàn , cực khổ và oanh liệt qua mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc Việt Nam , một dân tộc với Văn minh Đồng bằng Sông Hồng ___ Cái nôi của loài người còn nguyên vẹn rừng nguyên sinh Cúc Phương với Động Người xưa trên lưng chừng vách núi Cúc Phương ; Đi qua trọn vẹn cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc V.N và những năm xây dựng tổ quốc ta trong hòa bình đều là những thiên tiểu thuyết cuộc đời con người mà những tác phẩm văn học chỉ thể hiện được từng nét, từng nét , mà rất khó có thể có một tác phẩm văn học nào lớn đủ cho nó .
Bởi vậy, những đoạn hồi ký của người ta tưởng như phi văn học , và của cá nhân ai đó ngỡ là không mấy giá trị , chỉ là của cá thể ai đó thôi , không , đó là những viên gạch đã được nung chín từ nắm đất sông Hồng để xây lên thành những tòa biệt thự văn học , những dãy nhà bảo tàng lịch sử dân tộc qua từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử Việt Nam .
Năm 2012 , cuối năm , sau một vòng tròn trên không ,dưới đất_ NamĐinh –Hà Nội –Sài Gòn –Hải Phòng –Hà nội –Nam Định, liên lạc với đồng đội –học viên Trường Đại học kỹ thuật quân sự Việt Nam Khóa thứ nhất –C213 tôi được nối lại sau nhiều năm không biết và cũng không ai biết tôi trôi nổi về đâu sau khi rời Quân đội từ hàng ngũ Sỹ Quan kỹ thuật Thủ đô về nơi chôn rau cắt rốn của mình .
Viết hồi ký này , có lẽ bắt nguồn từ ý tưởng củaTướng Nghiêm Sỹ Chúng . . Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu Tướng _Tổng cục Kỹ thuật Quân Đội Nhân Dân Việt Nam .
Gửi thư cho đồng đội vả tôi có được từ Email của Tiến sỹ Đại Tá Lê Kinh Tuyến Viện Nghiên cứu kỹ thuật quân sự V.,N cũng như vậy từ Tiến Sỹ --Đại Tá Nguyễn Nước Trường Đại học Kỹ thuật quân sự Trần Đại Nghĩa ( rường Kỹ thuật Quân sự Vin–Hem–Pích ) .
Xin chép ra đây toàn văn thư của Nghiêm Sỹ Chúng .
Và , có thể nói đó là điều cảm xúc và viết những trang hồi ký từ khi về trường Đại học cho tới khi về nghỉ hưu không ai biết đến .
Thư gửi các ban cựu học viên C213 ĐHKTQS
Các bạn thân mến,
Trong những năm gần đây HVKTQS đã phát động những đợt viết hồi ký về nhà trường và đã xuất bản 2 ấn phẩm là Không gian tình thầy (10-2006) và Mái trường trong ký ức (10-2011) gồm khoảng 150 bài viết của các thày giáo và học viên của HV trong suốt 45 năm qua. Nhưng đáng tiếc vì lý do thiếu thông tin nên các học viên khóa 1 chúng ta tham gia rất ít.
Những chặng đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là những kỷ niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy giành một phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn chúng ta đã đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của các bạn sẽ tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển chọn những bài hay để đóng góp cho ấn phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi chúng ta lâu nữa!
Chúng tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là thời kỳ 1971 – 1975.
- Bài viết bao gồm các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.
- Đề tài tự do, tất cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy.
- Mỗi người nộp cho một ảnh chân dung cỡ 3x4 hoặc 4x6 kèm theo thông tin cá nhân: ngày sinh, địa chỉ, điện thoại, vợ con… để in vào tập sách (của tất cả mọi người trong C213).
Rất mong nhận được sư hưởng ứng của tất cả anh em chúng ta, Cảm ơn!
TM BLL học viên khóa 1 Nghiêm Sỹ Chúng
Thời gian gửi bài đến hết tháng 12/2013.
Địa chỉ gửi bài : Nghiêm sỹ Chúng, nhà số 16, ngõ 71/14 phố Hoàng Văn Thái, Thanh Xuân, Hà Nội, ĐT: 069562073 – 0973128873 email: ttbinh2@yahoo.com
Trong những năm gần đây HVKTQS đã phát động những đợt viết hồi ký về nhà trường và đã xuất bản 2 ấn phẩm là Không gian tình thầy (10-2006) và Mái trường trong ký ức (10-2011) gồm khoảng 150 bài viết của các thày giáo và học viên của HV trong suốt 45 năm qua. Nhưng đáng tiếc vì lý do thiếu thông tin nên các học viên khóa 1 chúng ta tham gia rất ít.
Những chặng đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là những kỷ niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy giành một phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn chúng ta đã đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của các bạn sẽ tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển chọn những bài hay để đóng góp cho ấn phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi chúng ta lâu nữa!
Chúng tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là thời kỳ 1971 – 1975.
- Bài viết bao gồm các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.
- Đề tài tự do, tất cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy.
- Mỗi người nộp cho một ảnh chân dung cỡ 3x4 hoặc 4x6 kèm theo thông tin cá nhân: ngày sinh, địa chỉ, điện thoại, vợ con… để in vào tập sách (của tất cả mọi người trong C213).
Rất mong nhận được sư hưởng ứng của tất cả anh em chúng ta, Cảm ơn!
TM BLL học viên khóa 1 Nghiêm Sỹ Chúng
Thời gian gửi bài đến hết tháng 12/2013.
Địa chỉ gửi bài : Nghiêm sỹ Chúng, nhà số 16, ngõ 71/14 phố Hoàng Văn Thái, Thanh Xuân, Hà Nội, ĐT: 069562073 – 0973128873 email: ttbinh2@yahoo.com
Một ngày nắng đẹp
trên đất Hà Nội
Quả đất hình bầu dục hay tròn
hay vuông thì Chuỗi số vẫn hội tụ .
Cuộc gặp mặt cựu học viên K 1 Học viện Kỹ Thuật quân sự V.N đã diễn ra rất thân tình và cảm động giữa các Tướng lĩnh , sỹ quan Trung, Cao cấp . __ Tiến sỹ , Tiến Sỹ Khoa học , Kỹ sư Quân Sự V. N Từng đi tron vẹn cuộc Chiến tranh Giải phóng dân tộc và Vệ Quốc trong thế kỷ 20 .
Không ai nói về những vinh quang , thành tích huân huy chương mà bộc bạch cùng nhau những kỷ niệm không phai mờ trong qua trình trưởng thành từ ngây thơ đến dũng cảm trên con đường khoa học kỹ thuật quân sự việt nam trong nửa cuối thế kỷ 20 .
Những mái tóc bạc long lanh từ 3 miền của tổ quốc trở về Hà nội trong một ngày nắng đẹp như báo hiệu những năm tháng còn lại của đời người là tốt đẹp cùng một Tổ quốc với bao tự hào và thân thiết như máu thịt .
Cuộc gặp mặt cựu học viên K 1 Học viện Kỹ Thuật quân sự V.N đã diễn ra rất thân tình và cảm động giữa các Tướng lĩnh , sỹ quan Trung, Cao cấp . __ Tiến sỹ , Tiến Sỹ Khoa học , Kỹ sư Quân Sự V. N Từng đi tron vẹn cuộc Chiến tranh Giải phóng dân tộc và Vệ Quốc trong thế kỷ 20 .
Không ai nói về những vinh quang , thành tích huân huy chương mà bộc bạch cùng nhau những kỷ niệm không phai mờ trong qua trình trưởng thành từ ngây thơ đến dũng cảm trên con đường khoa học kỹ thuật quân sự việt nam trong nửa cuối thế kỷ 20 .
Những mái tóc bạc long lanh từ 3 miền của tổ quốc trở về Hà nội trong một ngày nắng đẹp như báo hiệu những năm tháng còn lại của đời người là tốt đẹp cùng một Tổ quốc với bao tự hào và thân thiết như máu thịt .
Cùng
nhau họp mặt , không quên đồng đội đã hy sinh trên chiến trường và bệnh tật bởi
cuộc chiến cực kỳ gian khổ tạo nên .
Đoàn tụ với nhau cả người ruột thịt thân thích của những người đã khuất , cả những chị em đã một chặng đường dài chiến tranh gằn bó và lớn lên cùng Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự V.Nn trong thế kỷ 20 .
Như một Đại gia đình __ Một Tình cảm Đồng đội _ Đồng chí đằm thắm và thiết tha giữa tuổi mà người xưa gọi là " Nhân sinh thất thập cổ lai hy " .
Những cuộc đời thường Trong sáng ;cho ta một tấm gương hào hùng đẹp mãi trong lòng người khi gặp gỡ.
Đoàn tụ với nhau cả người ruột thịt thân thích của những người đã khuất , cả những chị em đã một chặng đường dài chiến tranh gằn bó và lớn lên cùng Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự V.Nn trong thế kỷ 20 .
Như một Đại gia đình __ Một Tình cảm Đồng đội _ Đồng chí đằm thắm và thiết tha giữa tuổi mà người xưa gọi là " Nhân sinh thất thập cổ lai hy " .
Những cuộc đời thường Trong sáng ;cho ta một tấm gương hào hùng đẹp mãi trong lòng người khi gặp gỡ.
NGUYỄN THANH SƠN
BÂY
GIỜ EM Ở ĐÂU.
Cuối chiều hôm đó tôi với Trọng
vừa về tới phố Hàm Long bỗng nghe tiếng gọi lớn, giật giọng:
- Anh Sơn, vào đây uống nước đã!
À Hùng, Hùng "s" đang ngồi cùng mấy cậu bạn tổ điện, mặc đồng
phục màu lửa, đỏ rực cả một góc quán.
Tôi bảo Trọng:
-Ta vào tý đã.
Hùng giới thiệu tôi với mấy anh em tổ điện:
-Đây là a.Sơn, đại đội trưởng của tôi hồi ở Trường Sơn.
Còn tôi thì giới thiệu với Trọng và có thể cả với mấy anh em còn chưa
biết:
-Đây là Hùng, còn gọi là Hùng "phễu"! Các cậu có biết là tại
sao lại có cái tên như thế không? Là vì thế này, ở Trường Sơn không nói tới bom
đạn, tới sốt rét… mà chỉ riêng sự vất vả mùa khô bụi phủ đầy đầu tóc, anh em ta
thì người nhỏ bé, cả ngày vần cái xe 3 cầu rất mệt. Không phải là không đói,
mệt quá, chả thiết ăn gì. Thấy anh em trệu trạo nhai miếng lương khô mà thương.
Còn Hùng, lúc nào Hùng cũng ăn ngon lành! Cứ ngửa cổ ra nhét hết vào miệng:
Thịt hộp, măng rừng, rau tàu bay...rất hồn nhiên, và vui vẻ. Chính vì thế nên
anh em mới trêu là "phễu" và bây giờ mới to khoẻ thế chứ.
Chúng tôi cùng cười...Nào, xin mời!
Đột ngột Hùng hỏi tôi:
-Thế anh đã tìm thấy em Lương chưa?
-Chưa thấy.
Mọi con mắt đều đổ dồn vào tôi, như sắp được nghe một câu chuyện tình
mùi mẫn ở chiến trường. Trọng cũng có vẻ để ý, tôi với Trọng chơi với nhau từ
nhỏ không dấu nhau điều gì, hơn nữa Trọng rất thân với...vợ tôi.
Hùng hỏi:
- Sao anh không nhờ chị em Trưng Trắc họ tìm cho?
-Nhờ rồi, không thấy.
Tôi lại phải giải thích: Năm 1971, tỉnh Hà Tây có tổ chức một tiểu đoàn
toàn nữ gọi là tiểu đoàn Trưng Trắc, hơn 600 chị em đi vào chiến trường, phần
lớn ở sư đoàn tôi. Tuổi trẻ 17,18 tuổi cô nào cũng khoẻ đẹp cả. Con gái mà vào
chiến trường thì gian khổ lắm, vất vả lắm, hơn con trai bội phần. Cô thì nuôi
quân, cô thì y tá, cô thì bốc hàng ở kho. Các cậu có biết không, như cô Yên bốc
hàng ở kho KĐ1 có ngày bốc tới 22 tấn hàng!
Song phải nói là ngày đó rất nghiêm túc, không phải những chuyện trai
gái giữa rừng như đám trẻ bây giờ tưởng tượng đâu...
Câu hỏi của Hùng làm cho tôi nhớ lại một kỷ niệm:
Cuối năm 1971 sau hơn 1 tháng đi bộ, tôi về được đến đúng cái đại đội
mà tôi được cử vào công tác, đó là đại đội sửa chữa tiểu đoàn 102 binh trạm 32.
Cậu Quang y tá dẫn tôi đi men rừng, vượt qua bãi bom B52 dài hơn 9 km thì về
tới đơn vị, có nghĩa là về đúng cái nhà cuối cùng của mình. Người nhà đầu tiên
mà tôi gặp, lại là một cô gái, chính là cái cô Lương mà Hùng vừa hỏi tôi đó.
Không phải là Lương ra đón tôi, mà là cô ấy đang rửa rau ở suối, thấy tôi cô ấy
e lệ gật đầu chào. Như Quang kể thì mọi người đều đã biết tôi về, một kỹ sư trẻ
tuổi, đẹp trai...Song tôi chả để ý gì cả, chỉ cảm thấy cô ấy như cái ảnh cô dân
quân trong buổi duyệt binh ngày nào, áo nâu căng lẳn, khoác súng trường, khuôn
mặt tươi sáng...Khác với tưởng tượng của tôi, không phải là tay bắt mặt mừng,
mà chỉ có những cái gật đầu chào lặng lẽ. Lạ, mọi người đều như là đi nhẹ, nói
khẽ vậy...(?) Bấy giờ tôi mới biết là
anh em trên chòi quan sát mới báo về là máy bay nó vừa thả hai cây thu phát
nhiệt đới xuống khu vực này, mới tìm được một, còn một đang tìm.
Cây thu phát nhiệt đới là một loại máy thu phát vô tuyến điện, cực
nhạy. Được nguỵ trang dưới dạng một cành cây, tất cả đều bọc nhựa xanh, dễ lẫn
với cây rừng. Tất cả các tiếng động: Tiếng người cười nói, tiếng chân bước,
tiếng máy nổ...nó đều thu lại và phát về căn cứ, và lập tức máy bay đến ném
bom, hèn gì mà tất cả đều im lặng. Nửa tiếng sau mới tìm thấy, nó mắc trên một
cây cổ thụ. Cậu Tuyến xách ra một khẩu CKC và một... thùng đạn, sau khi bắn một
phát xuyên thủng thân cây thu phát nhiệt đới, để phá hỏng nó. Cậu ta lần lượt
bắn đứt ...từng sợi dây dù cho rơi xuống, để tháo ra lấy bóng bán dẫn lắp đài!
Bấy giờ anh em mới nói chuyện vui vẻ, và đơn vị tổ chức liên hoan...
Và tờ mờ sáng hôm sau, tôi được đón tiếp bằng một trận bom B52 ném đúng
vào đơn vị này. Đang ngủ rất say thì tôi bỗng choàng tỉnh vì bom nổ, chát chúa
đinh tai nhức óc... vậy mà tôi cũng lạ, ngồi xổm trên giường khoác chăn, mà tôi
cứ nhấp nhổm nhìn qua khe hở nắp hầm, để xem...bom nổ. Có đến hàng ngàn cái máy
hàn đang chớp sáng...B52 rải thảm bom bi!
(Nhấp nhổm vì vừa tò mò muốn xem
lại vừa sợ một viên bi lọt qua khe hở cắm vào… giữa trán. Sau này bị nhiều, tôi
có kinh nghiệm là: B52 rải thảm bom bi, nếu ở dưới hầm thì 100% là sống, nếu ở
trên mặt đất thì 100% là...chết. Còn B52 rải thảm bom phá thì, lạy chúa...còn
xem nó rơi vào đâu đã!)
Vậy thôi, tôi chả có kỷ niệm riêng gì về cái cô Lương này cả, và cũng
chả bao giờ xuống bếp. Cả ngày lao động vất vả, nuôi quân cho ăn cái gì thì ăn
cái đó, và cũng chả bao giờ để ý là ăn cái gì. Chỉ riêng có một chuyện là trên
thông báo xuống là đơn vị tôi được cử một người đi học y tá, ban chỉ huy chúng
tôi thống nhất là cho Lương đi, vậy thôi.
Đến cuối tháng 5, bắt đầu mùa mưa 6 tháng liền - mùa mưa thì hết hoạt
động giống như gấu đi ngủ Đông vậy – các đơn vị đi vào sửa chữa bảo dưỡng xe,
căng tăng ni lông chuyển lên nóc hầm ở -
còn tôi lại được binh trạm giao nhiệm vụ tổ chức một lớp đào tạo thợ,
quy mô đại đội. Đào tạo thợ ở trong chiến trường thì rất khó khăn, đến viên
phấn còn khó, nữa là sách vở. Song chúng tôi rất quyết tâm, tôi và mấy cậu
trung cấp kỹ thuật vắt óc ra mà biên soạn giáo án, còn anh em được cử về học
thì háo hức chờ đợi. Ở trong chiến trường tôi mới thấy hết cái thèm được học
của anh em, đang chiến tranh đang chẳng biết có còn sống hay không, song ai
cũng tin là sẽ có một ngày chiến tranh chấm dứt, họ sẽ trở về nhà. Và lúc đó
thì làm gì để sống lại là một câu hỏi lớn?
Được đi học, dù là chỉ đi học y tá, học thợ để có cái nghề sau này đã là
một điều may mắn. Lương cũng vậy.
Khoá đào tạo thành công rực rỡ, mọi người đang háo hức tổ chức liên
hoan để đi nhận một việc hoàn toàn mới. Thì tôi, "Trung tâm" của lớp
học, lăn quay ra sốt rét! 5 cậu học viên, họ chặt một đoạn tre buộc lên cái
võng, cáng tôi sang đội điều trị... Và từng tốp thợ mới, họ sang chào tạm biệt
tôi.
Đơn độc, chỉ còn lại một cái ba lô.
Binh trạm của tôi được chuyển thể thành trung đoàn xe, và như vậy chúng
tôi không còn chỉ chạy loanh quanh trên đất của binh trạm nữa, giờ đây chúng
tôi có thể chạy khắp chiến trường, khắp Trường Sơn.
Và trung đoàn xe của tôi cũng không thuộc sư đoàn cũ nữa, chuyển ra
đóng ở ngã 3 Lùm Bùm, về phía bắc khoảng 30 km.
Mới đỡ sốt, tôi lại đòi ra, để về đơn vị.
Song trước khi đi bộ ra Lùm Bùm cách 30 km, thì tôi đi ngược lại lên sư
đoàn bộ cách đó 9 km, để chào chú Chấn, chú Thiềm, chào Vị…
Lê VănVị cùng tốp kỹ sư đầu tiên của khoá 1 ĐHQS đi thẳng vào chiến
trường với tôi, song Vị lại nhận nhiệm vụ ở phòng Tham mưu Sư Đoàn. Cứ mỗi lần
nghe B52 đánh vào chỗ tôi, thì Vị lại kêu lên: Phen này thằng Sơn chắc chết.
Song gọi điện thoại, thấy tôi cười khanh khách thì Vị lại kêu: Số mày còn cao!
Chú Lê Khánh Thiềm, chủ nhiệm hậu cần sư đoàn, có họ hàng xa với tôi.
Năm ngoái, khi lên sư đoàn để trình diện, chú Thiềm đã tìm gặp tôi, chú ấy ngạc
nhiên: Sao con ông Tạo cũng vào đây? Thấy tôi khoẻ mạnh trắng trẻo, chú ấy lắc
đầu: Cũng chỉ được vài tháng thôi (?)
Còn chú Nguyễn Quốc Chấn, Tham mưu trưởng sư đoàn, lại là trong nhóm
bạn thân với anh Hoàng Xuân Điền - Binh Trạm trưởng 33 - anh con cô con cậu với
tôi. Họ còn mấy người nữa: chú Quách Sỹ Kha, chú Nguyễn Cận, chú Phan Khắc
Hy…họ là những người lính đầu tiên, và cũng là những chỉ huy đầu tiên của trung
đoàn Đội Cung thủa nào. Tôi muốn lên chào họ, là vì giờ đây không còn trong một
sư đoàn nữa, biết đến bao giờ mới gặp.
Thất thểu, một mình một bóng xuyên rừng già Trường Sơn mùa mưa ( Cũng liều thật, không một tấc sắt phòng
thân mà rừng Trường Sơn thì đầy thú dữ hiểm nguy rình dập, nếu làm sao thì là
làm sao?-mất tích không rõ nguyên nhân!) vượt qua hơn 9 km, vào tới hầm chú
Chấn thì tôi đổ vật xuống, tôi sốt rét trở lại, rất nặng. Làm tội chú Chấn, vội
gọi mấy cậu công vụ dìu tôi sang bệnh xá sư đoàn.
Tôi không ngờ là tôi lại sốt cao đến như vậy. Tiêm Quy Nin - một loại
thuốc dầu chữa sốt rét - mà tất cả tay, đùi, mông, những chỗ có thể chọc kim
vào đều đã bị cứng đơ lại, do dầu không
tan. Nếu cố ấn kim thì cái kim gập khịu xuống, phải đưa thuốc vào ven.
Đầu tôi tóc lưa thưa, mắt trắng dã, người gầy xác xơ, da thâm tái. Đã
vậy lại còn bị đinh râu! Có một cái nốt như muỗi cắn ở trên môi tôi không biết
cố nặn, thế là đinh râu, môi sưng như con đỉa vắt qua mồm.
Đúng là chiến tranh và chiến trường. Nó không chỉ là bài hát, câu thơ
của các văn nghệ sỹ, mà nó vô cùng khốc liệt. Mới chỉ một năm trước tốt nghiệp
ĐHQS tôi khoẻ đẹp như một hoàng tử, vậy mà chỉ một năm sau tôi đã như một con
mèo hen, yếu đuối, rụt rè...
Ồ, tôi lại gặp Vị, cũng nằm bệnh xá. Không những vậy còn gặp Chung,
cũng lại nằm bệnh xá. Nguyễn Duy Chung là kỹ sư ra đa vào trung đoàn cao xạ
591.
3 đứa chúng tôi dìu nhau ra suối tắm, thật khốn khổ nước suối chỉ tới
đầu gối, chảy chậm. Vậy mà 3 chúng tôi phải nắm chặt tay nhau, dò dẫm bước trên
những tảng đá, cứ như là buông tay nhau ra thì bị suối cuốn mất tăm mất tích?
Và, tôi lại gặp Lương! Té ra Lương được cử đi học y tá là học ngay ở
bệnh xá sư đoàn. Tôi ngạc nhiên một thì gặp tôi, Lương ngạc nhiên mười.
Tôi không hiểu là cô ấy nghĩ gì, song một điều chắc chắn là cô ấy không
tưởng tượng được là tôi lại sa sút đến như vậy. Mới ngày nào gặp tôi bên bờ
suối, tôi là chỉ huy lại trẻ trung phong độ, vậy mà... Liệu cô ấy có thương hại
tôi không?
Tôi ít tiếp xúc với con gái, cũng dễ hiểu thôi, vì từ 17 tuổi đến nay
đi bộ đội, mà môi trường bộ đội thì rất ít con gái. Thêm nữa tôi lại không bạo
dạn, làm việc thì tôi rất sôi nổi song tôi hay nghĩ, tôi sống nội tâm và vì vậy
tôi rất sợ con gái...nói nhiều.
Sau khi tròn xoe mắt nhìn tôi một cách kinh ngạc, thì cô ấy không nói
gì nữa, song cô ấy quan tâm và chăm sóc tôi đặc biệt. Nếu rỗi thì cô ấy lại
chạy sang lán bệnh nhân của tôi, cô ấy pha nước bột cam cho tôi, và ngồi cuối
giường chẳng nói chẳng rằng phe phẩy cái quạt... Tôi xa nhà, trong cảnh ốm đau
mà tôi như có một cô em gái đang chăm sóc mình.
Tôi lúc đó 24 tuổi, cái tuổi bao ước mơ khát vọng, bao nỗi riêng
tư...song có lẽ tôi đã rất già, vì tôi rất khô. Cũng có lẽ vì tôi đã trở thành
một con chiên rất ngoan đạo, giống như một chú tiểu đã xuống tóc đi tu...cần xa
lánh trần tục.
Cô ấy ngồi cuối giường phe phẩy cái quạt, vừa quạt vừa đọc một cái gì
đó.
Tôi nhìn thấy khe hở nơi cúc áo, một phần thịt trắng nõn nà, lại trăng
trắng của dải cócxê...Xấu hổ quá, tôi ngoảnh nằm sang hướng khác.
Buổi tối cô ấy lại xuống, anh đã ăn được chưa, em tìm sữa pha cho anh
nhé?
Đúng là sốt rét cuối mùa mưa, lán bệnh của tôi chật ních người, buổi
tối chỉ có ngọn đèn dầu leo lét. Háo, tôi thèm một miếng cam Vinh. Hôm hành
quân vào, chờ ở trạm giao liên Hưng Dũng tôi, Quý Quyết, Công Sơn mua liền nửa
gánh cam Vinh giá 3 hào rưỡi/1kg, ăn kỳ hết thì thôi giờ thèm quá.
Tôi bị sốt rét rất nặng, song không ở thể rét, chưa bao giờ tôi bị rét
run cầm cập cả. Mà ở thể nóng, sốt cao nóng hầm hập, toàn thân đau nhức rã rời
uể oải.
Cô ấy lại xuống, để em bỏ màn cho anh nhé? Cô ấy cẩn thận dắt mấy góc
màn. Tôi bảo đang sốt rét, trong người đầy vi trùng rồi, chả phải phòng muỗi
đốt nữa đâu.
Cô ấy nhoài qua người tôi để dắt màn góc bên trong. Ối trời ơi, ngực cô
ấy sát ngay trên mặt tôi! Tôi cảm thấy như hai bầu vú to, căng mẩy như hai quả
cam đang treo ngay trên mắt mình. Và tôi như ngửi thấy mùi thơm, mùi thơm toát
ra từ thân thể của một người con gái trẻ trung, căng tràn sức sống, phồn thực.
Nói tôi cảm thấy, là vì tôi đã... nhắm tịt mắt lại rồi.
Sau lớp học bị sốt rét, tôi vào đội điều trị binh trạm, chưa khỏi tôi
đã về. Lại nằm bệnh xá sư đoàn, cũng lại đã 10 ngày rồi. Đã lại bắt đầu mùa
khô, sốt ruột quá trung đoàn xe của tôi đang gấp rút bước vào mùa vận chuyển
mới, tôi lại đòi về...
Buổi tôi về tôi không gặp lại Lương, cô ấy đang thực hành băng bó.
Sau khi học xong lớp y tá cô ấy được điều về trung đoàn công binh, và
từ đó đến nay đã 35 năm rồi tôi không gặp cô ấy, không rõ gia cảnh em thế nào,
bây giờ em ở đâu?
Có tiếng bảo tôi: Ôi dào tưởng gì, có thế mà đã hơn 30 năm rồi, ông anh
băn khoăn làm gì?
Tôi bảo: Không đâu, có những khoảng khắc những con người mà cả đời
người, ta không sao quên được.
Đột nhiên Hùng nói: Em cũng có một cô gái, mà cho đến bây giờ em cũng
không quên được. Cũng đã mấy chục năm rồi, cũng không rõ cô ấy ở đâu, số phận
giờ cô ấy ra sao?
Cũng lại trầm ngâm, Hùng kể: (Tại
sao khi nhắc lại quá khứ, người ta hay trầm ngâm thế nhỉ? À dễ hiểu thôi, vì đó
là tình cảm là quá khứ, là nỗi nhớ.)
-Em chạy giao liên cơ giới. Bên
ấy ngừng ném bom rồi không sợ bom nữa, song em vẫn chạy cả đêm. Bữa đó em chở
toàn chị em ra Bắc, có cả thương binh nữa, tới đèo Phulanhíc em dừng xe cho chị
em xuống nghỉ.
Em đi một vòng ra sau xe, nghe thấy tiếng hát nho nhỏ:
Tính tính tang tang tình...con
chim đrao xinh hát líu lo ca mừng công anh...
Em đập vào thùng xe: Này, không xuống mà đi đái đi à, còn ở đó mà tính
tính tính?
Anh có biết không, đáp lại là một giọng lạnh tanh phớt đời: Có còn chân
đâu mà xuống?
Ngạc nhiên, em leo lên thùng xe: Nằm trên cái võng vắt ngang qua hai
thành xe là một cô gái, mà hai chân bị cắt cụt ngang đùi, thoáng nhìn em đã bị
xốc.
-Làm sao mà cô bị thế này?...một thoáng im lặng: - Hỏi chi lạ? mìn.
-Thế cô ở đơn vị nào? - Du kích.
-Quê cô ở đâu? - Hỏi chi mà hỏi
lắm..?Quảng Đà.
Cô ấy không muốn nói chuyện, dễ hiểu thôi, một cô gái mà hai chân bị
cắt cụt thì cô ấy còn lấy đâu ra hào hứng mà nói chuyện nữa? Một nỗi buồn, một
nỗi thất vọng tràn ngập cả cuộc đời, nhất là với cuộc đời của một người con
gái. Em để ý cô ấy chỉ chừng 19, 20 tuổi
thôi, rất đẹp! Trăng sáng giữa rừng soi tỏ mặt cô ấy, một khuôn mặt trái xoan,
trắng xanh. Và đặc biệt là đôi lông mày, thế nào nhỉ, như hai vệt thẫm nhung
huyền mềm mại trên đôi mắt đen bồ câu. Có thể nói chưa bao giờ em cảm xúc trước
một cô gái như vậy, một cảm giác đau sâu thăm thẳm vừa luyến tiếc vừa cảm phục,
tiếc quá hai chân cô ta bị cắt cụt rồi.
Bỗng cô bé hỏi em:
- Ra Bắc còn xa không anh, em muốn được sớm ra Bắc quá.
Không hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà em lại trả lời cô ấy bằng cái
giọng tưng tửng mà về sau, không bao giờ em tha thứ cho mình:
-Xa đấy, tới Quảng Bình là 100 km tới Hà Nội là 700 km, liệu mà… nằm!
Em hỏi, thế có muốn đi...không, tôi bế?- Dạ.
Vậy là em cúi xuống bế cô bé lên, trời ạ, người gì mà nhẹ vậy? còn có
một mẩu!
Cô bé ngoan ngoãn choàng tay qua cổ em, vừa có mấy chị em về, em trao
cô bé cho họ.
Em còn chạy nhiều chuyến giao liên nữa, ngay lúc đó thì em không để ý
lắm, chiến trường mà, nhưng về tới đơn vị và cho đến tận bây giờ: Hình ảnh cô
bé đó, đôi mắt đó, đôi lông mày đó, và cả đôi chân cụt vẫn ám ảnh em, không thể
nào quên được.
Nhìn những giọt càfê nhỏ tí tách, mà mỗi giọt là một giây trôi qua, im
lặng.
Chúng tôi như cùng một suy nghĩ...
Hùng bảo:
- Em nói thật nhé, em tiếc mãi là sao mình không hôn cô ấy một cái? Em
tin đó là cái hôn thánh thiện nhất đời em.
-Đúng vậy. Tôi nói và có lẽ mọi người cùng nhận thấy như vậy.
Biết bao sự hy sinh hồn nhiên và
thầm lặng.
Đã hơn 30 năm trôi qua, bây giờ Em ở đâu?
ĐỖ ĐĂNG ĐÍCH
THỜI GIAN TRÔI
Thời
gian trôi (Trường ca )
Ta nhớ lại
, nhớ về những bạn xưa
_ Đồng
đội
Đã một thời Đạn bom ,
chinh chiến
,
Trên khắp nẻo đường
Rừng núi
Biển
khơi ;
Mªnh mang
nh÷ng th¸ng ngµy rùc löa
Nh÷ng ©m thÇm lÆng lÏ
Nh÷ng tr¸i tim
Nh÷ng t©m hån
Trong tr¾ng
V« t
LÆng lÏ
®i vµo
mªnh m«ng thêi cuéc
Kh«ng tÝnh to¸n ,
nghÜ suy sèng chÕt
C¶ giang san , biÓn réng mÕn yªu
Vµ quª ta ®ã
Vinh quang
Oanh liÖt
hµo hïng
G¬ng bÊt tö
®ang r¹ng ngêi trang vë Êy
Tr¸i tim yªu say ®¾m
Mét niÒm tin .
N¨m xa
Nh÷ng anh hïng
Nh÷ng chiÕn sü v« danh
Vµ nh÷ng trêng ca
thêi khãi löa binh ®ao
Nh÷ng ®¹i ngµn hïng vü
Tëng chõng thiªng liªng
huyÒn tho¹i
®· bao thêi
níc độc
linh thiªng
Ngêi b¹n ta __- §ång
®éi dÊn th©n vµo nh ch©n lý thuë thanh
xu©n
Nh÷ng chiÕn binh thêi
hßa b×nh
Tõ kh¾p nÎo miÒn ®Êt níc
BiÓn c¶ , trêi xanh
Vµ ®Êt mÑ biªn c¬ng ,
Nh×n t¬ng lai dÊn
bíc
trªn tõng trang s¸ch
Kh«ng ®Çu hµng vµ
Nh chiÕm lÜnh nh÷ng ®Ønh cao ;
Tuæi thanh xu©n cña
mét thêi con g¸i
Nµo ai ph©n biÖt víi ai
ChØ mét lßng cho nh÷ng íc ao
Dèc søc m×nh cho thêi chinh chiÕn
Quªn th©n thÕ ®Ó m·i ngät ngµo
T×nh ®ång ®éi Êy trong trang s¸ch
Th¾m b¹n lßng say víi ¸nh sao
§Ó mét ngµy mai trong khãi löa
Cho ngµn ph¸o ®Ñp gi÷a trêi cao .
¤i ! nh÷ng b¶n t×nh ca cuả thêi
gian khã
B¶n trêng ca cña m¸i trêng yªu mÕn yêu
Cña nh÷ng bíc ch©n in dÊu
nÎo Trêng S¬n
MiÒn
Nam , §Êt B¾c
Nh÷ng con ngêi
Mµ ta vÉn nî
khi kh«ng biÕt ®ñ ®Çy qu¸ khø
Mét m¸i
trêng
Nh÷ng §¹i ®éi ®Çu tiªn
Mét t¶ng nÒn
Nay v÷ng tr·i Kü thuËt cña ngµn qu©n
Hµng ch÷ ®á Qu©n §éi Nh©n D©n
L¸ Qu©n Kú QuyÕt th¾ng ch¼ng hÒ phai .
(Còn nữa )TRƯỜNG CA _ Khóa -1--C213 Học Viện K T Q S V N .
Có lẽ ngày 7-5 1954 kỷ niệm chiến thắng lịch sử
của Quân đội nhân dân V. N __ Chiến thắng Điện Biên Phủ trùng với ngày 7 tháng
năm 1955 , _ ngày chính thức thành lập Quân chủng Hải quân của Quân đội nhân
dân Việt Nam , nên ít ai nghĩ đến kỷ niệm , tổ chức long trọng ngay cả những
người lính Hải Quân cũng nhiều người không hay , mà những ngày lịch sử ngày 2
và 5-tháng 8 - 1964 không mấy ai không biết ___ dấu ấn lịch sử của Hải Quân V.N
.
*Truyện Hồi ký
về ngày 5 tháng 8 --1964
Tháng 5 đối với tôi quả là một tháng mà khi nghĩ đến thì bao nhiêu kỷ niệm
dồn về , mà những kỷ niệm ấy như một ngày không quên trong thời trai trẻ khoác
trên mình màu sắc biển khơi __ Lính thủy Việt Nam . Tháng 5 đổ lửa trên đất tận cùng Nghệ An , trên ven quốc lộ 8 sang Lào với dòng Lam đục ngầu vì lũ ; trên con sông này , bên lở là bên Nghệ An ; một mùa lũ năm ấy , Tháng 5 , chúng tôi những người lính thủy , binh nhì đầm mình từ 9 mười giờ tối đến 2, ba giờ sáng vật lộn với con lũ cứu bè gỗ của đồng bào , bởi những năm ấy , Nghệ an nghèo lắm , bữa khoai bữa cơm và những bè gỗ khai thác trên rừng Nghệ An là một phần lớn cuộc sống của nhân dân , bởi lúa nước ở vùng này khó trồng và năng xuất thấp . Bấy giở từng dẫy Mía ven sông cứ lũ đến là lở cả tảng bờ sông để rồi trôi theo dòng nước ngông cuồng ; Thời ấy chưa có quy hoạch gì cho cây mía dù Nhà máy Đường Sông Lam nằm bên bờ sông theo Quốc lộ 8 , đó cũng là một nguồn sống của người dân bên nhà máy đường này , . Những năm tháng chưa biết biển khơi là đâu mà chúng tôi đã vật lộn với lũ nguồn điên loạn mà cũng chẳng cứu hộ được mấy vì chẳng ai có kinh nghiệm và chưa biết cách , toàn những lính thủy 18 đôi mươi non choẹt, có anh chịu thua dòng nước và ngồi trên khóm mía mà gặm vì vừa đói vừa mệt, chờ lệnh thu quân .
***
Mấy năm sau , khi đã rời đoàn không số để vận tải biển phía Bắc , rồi
lại lên bờ , ra ven biển Quảng
Ninh xây dựng căn cứ sửa chữa Hải Quân X 48 mà năm xưa X 48 đã được tặng Danh
hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang , nhưng nào họ có hay biết gì về cái ngày
trứng nước năm xưa .
Ngày ấy đã 50 năm trôi qua rồi, đúng trưa ngày 19 tháng 5 Hai anh em chúng tôi đặt ba lô trên con đường mòn vào một khu rừng nơi ấy trại giam tù nhân ; khi vừa đặt ba lô xuống tôi gặp một công an giải 3,4 tù nhân rời lán ra khỏi rừng về đâu đó , mấy người tù chào chúng tôi bằng “ ông” mặc dù tôi rất trẻ chỉ anh Chính trị viên Trung úyKỹ sư Lê Đình Dinh là ở tuối ngoài 30 người Huế ___ Bộ đội chống Pháp __ Kỹ Sư cơ khí Chế tạo – Đại Học Bách khoa Hà nội khóa 1 . Bấy giờ tôi nghĩ : Có lẽ tù thì mất quyền công dân và gặp bất kỳ ai ngoài đời đều phải chào bằng Ông ? .
Hai chúng tôi tiếp quản cái Lán nứa dựng sát chân núi chỉ có những thân gỗ và tre nứa làm phản nối dài đủ cho từng chục người nằm ___ Nơi nương thân qua đêm của những người tù . Một lán nứa nằm sát chân núi đã là doanh trại của chúng tôi __
Ngày ấy đã 50 năm trôi qua rồi, đúng trưa ngày 19 tháng 5 Hai anh em chúng tôi đặt ba lô trên con đường mòn vào một khu rừng nơi ấy trại giam tù nhân ; khi vừa đặt ba lô xuống tôi gặp một công an giải 3,4 tù nhân rời lán ra khỏi rừng về đâu đó , mấy người tù chào chúng tôi bằng “ ông” mặc dù tôi rất trẻ chỉ anh Chính trị viên Trung úyKỹ sư Lê Đình Dinh là ở tuối ngoài 30 người Huế ___ Bộ đội chống Pháp __ Kỹ Sư cơ khí Chế tạo – Đại Học Bách khoa Hà nội khóa 1 . Bấy giờ tôi nghĩ : Có lẽ tù thì mất quyền công dân và gặp bất kỳ ai ngoài đời đều phải chào bằng Ông ? .
Hai chúng tôi tiếp quản cái Lán nứa dựng sát chân núi chỉ có những thân gỗ và tre nứa làm phản nối dài đủ cho từng chục người nằm ___ Nơi nương thân qua đêm của những người tù . Một lán nứa nằm sát chân núi đã là doanh trại của chúng tôi __
Những người khởi sự xây dựng một khu sửa chữa
tàu thuyền và máy tàu tuần la và tàu săn ngầm nhỏ bé của Hải Quân Việt Nam ;
khi đó chúng tôi ra khỏi đơn vị để ra ngaoì không được mặc quân phục để giữ bí
mật , lính thủy chúng tôi không được phép mặc dân phục ra ngoài thì cách xa từ
3 km trở lên mới được mặc quân phục lính thủy ( Quả thật điều này làm chúng tôi
thích thú trong các ngày nghỉ được đi chơi ngoài dân hoặc ra Cẩm Phả Cửa Ông .
)
Bây
giờ , có lẽ nhiều người cho rằng , đó chẳng có gì đáng kể , nhưng với tôi là
một tháng 5 đáng nhớ ___ Ngày đầu tiên của X 48 Hải quân đơn vị anh hùng lực
lượng vũ trang . Bấy giờ , con suối Quang Hanh , suối Ông Già và suối nước nóng
với chúng tôi cũng như những cây lá , củi khô , vách núi và những cơn lũ rừng
cộng Thủy triều , vật lộn với thiếu thốn , đi sửa chữa ngoài khu neo mà thôi .
Nhưng giờ thì Suối nước nóng và nước khoáng Quang Hanh đã thay đổi theo thời
gian trong nhiều năm Hòa bình trôi qua .
Sự phát triển tất yếu của Hải Quân Việt Nam Và quá trình xây dựng quân chủng đủ cho chúng ta thấy Sự tiềm tàng trong sức mạnh của Quân đội Nhân Dân Việt Nam .
Tôi gọi là truyện hồi ký , bởi những điều vừa nói chỉ là một mảnh nhỏ trong biết bao thay đổi trong những năm chiến tranh khốc liệt chống trả Đế quốc Mỹ trên miền Bắc mà khốc liệt và hy sinh nhiều phải kể đến quân chủng Hải quân với Khu neo __Hạ Long, mà nơi tôi ngồi dưới hầm ôm súng không được nhả đạn cho dù F4 , F105 __ Thần Sấm , Con Ma cách đâù mình trong tầm đạn súng bộ binh , bởi nổ súng sẽ bị lộ bí mật của khu rừng trên đường xâm nhập oanh tạc khu neo Hải Quân ; cho dù bọn phi công cho phi cơ bay như những tàu lá lượn trong gió mùa thu lá bay , cũng không khỏi rớt, tan tành trên sườn núi cheo veo
Sự phát triển tất yếu của Hải Quân Việt Nam Và quá trình xây dựng quân chủng đủ cho chúng ta thấy Sự tiềm tàng trong sức mạnh của Quân đội Nhân Dân Việt Nam .
Tôi gọi là truyện hồi ký , bởi những điều vừa nói chỉ là một mảnh nhỏ trong biết bao thay đổi trong những năm chiến tranh khốc liệt chống trả Đế quốc Mỹ trên miền Bắc mà khốc liệt và hy sinh nhiều phải kể đến quân chủng Hải quân với Khu neo __Hạ Long, mà nơi tôi ngồi dưới hầm ôm súng không được nhả đạn cho dù F4 , F105 __ Thần Sấm , Con Ma cách đâù mình trong tầm đạn súng bộ binh , bởi nổ súng sẽ bị lộ bí mật của khu rừng trên đường xâm nhập oanh tạc khu neo Hải Quân ; cho dù bọn phi công cho phi cơ bay như những tàu lá lượn trong gió mùa thu lá bay , cũng không khỏi rớt, tan tành trên sườn núi cheo veo
TỪ
NHÀ TRƯỜNG RA BIÊN GIỚI
Trích
Nguyên văn đoạn mở đầu Hồi ký của Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu tướng
-- C213 – khóa 1 học viện kthuật Quân sự V.N __
“TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG BIÊN GIỚI “
Tháng 2/1979 chiến tranh biên giới nổ ra .
Tôi đang giảng dạy ở trường ĐHKT Quân sự thì nhận được lệnh điều lên QĐ5 . Đó
là một bước ngoặt trong cuộc đời . Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tôi lại xa rời
nghề thầy giáo , xa rời môn học Nguyên lý máy mà tôi đã gắn bó với nó 6 năm liền
.
.
Thật ra trong những năm còn là sinh viên tôi đã từng là tổng cán sự , tôi lên
lớp phụ đạo rất nhiều lần cho các học
viên cùng lớp nhiều môn học khác nhau
tôi được rèn luyện kỹ năng sư phạm từ khi còn là sinh viên . , đến khi
làm thầy giáo ,mới lên lớp giảng bài cho vài khóa đầu tiên , các học viên đã
nói với tôi rằng :” Anh sinh ra là để làm thầy giáo .”
Cái nghề thầy giáo tưởng như đã gắn liền với
tôi . Nhưng cuộc đời là như thế , không ai có thể tự quyết định số phận của
mình
Trước đó ,không lâu , có một lần vào phòng
thí nghiệm cơ .học ,
, Anh
Phát trong bộ môn , người phụ trách phòng thí nghiệm nói với tôi rằng :”
Ông học giỏi và dạy cũng giỏi ,
nhưng hình như con đường học vấn của ông
cũng không lâu dài .”
Lúc ấy tôi không tin , tôi nghĩ ông này chỉ
nói vớ vẩn . Thế mà bây giờ nó đã trở thành sự thật . February 5, 2015
**********.
Vậy đấy .
Tôi đọc những
trang đầu cuốn Hồi ký của Tướng Nghiêm Sỹ Chúng đưa cho khi cuộc gặp mặt thường
niên 2015 vào hồi cuối .
Nghĩ suy một hồi lâu , thì ra mỗi người mỗi
con đường mỗi ngả trên con đường binh nghiệp sau khi tốt nghiệp khóa 1 trường
Đại học kỹ thuật quân sự với quân hàm thiếu úy và học vị __ Kỹ sư quân sự .
Chúng tôi đều là những học viên xuất sắc
trong học tập và rèn luyện nên thường đều là cán sự phụ đạo thêm các bài giảng
sau giờ lên lớp về tự học và nắm vững bài .
Một tốp chúng tôi ngay trong những năm đầu và
tiếp sang năm thứ 2 của Khoa học Cơ bản , nhà trường và khoa trang bị cơ điện
đã có ý định tuyển chọn ở lại trường làm
giảng viên các môn kỹ thuật cơ sở mà nhà trường và khoa còn trống vắng , sự
tuyển chọn cũng theo cách thức bấy giờ đối với các trường đại học trong Bộ Đại
học và Trung học chuyên nghiệp
Trong thời buổi chiến tranh ấy , thời buổi mà
khoa học kỹ thuật của Việt Nam , nhất là
kỹ thuật quân sự còn non kém thì ngoài nhà trường đại học là môi trường thả sức
phát huy nghiên cứu ứng dụng mà trong nhà trường chỉ thuần túy là giảng dạy
theo giáo trình , dù có tự mình biên soạn ra cũng chỉ mang tính chất chọn lọc
và dịch từ Giaos trình Tiếng NGA sẵn có ; cho nên không mấy ai muốn ở lại trên
bục giảng đường đại học , hầu hết đều muốn cất cánh đại bàng tung bay trên các
nẻo đường của Tổ quốc mà mình hằng mến yêu , dấn thân vào chinh chiến .
Trong số tổ trưởng bộ môn
Sức bền vật liệu của khoa _ Anh Nguyễn Hoa Thịnh chọn một số học
viên cho học và nghiên cứu sau năm thứ 2
: có tôi , Lê Kinh tuyến , Nguyễn
Đình Thắng , Nguyễn Minh Châu , Lê Công Sơn , Nguyễn Đình Năng , thì chỉ có Nguyễn
Đình Thắng và Nguyễn Minh Châu Ngành Ô-tô – Tăng –xích ở lại làm giảng viên và
rồi đi nghiên cứu Phó Tiến sỹ , ngành Nguồn Điện không có ai ở lại ; Riêng
Nghiêm Sỹ Chúng từ không quân về trường đã qua năm thứ nhất đại học tổng hợp
nên nổi trội hơn chúng tôi ở những năm đầu cơ bản và xuất sắc nhất cũng được
giữ lại làm giảng viên .
Thời gian trôi đi , tôi về Cục Vật Tư Tổng cục
Kỹ thuật mà con dấu vẫn chưa đổi từ Tổng cục Hậu cần sang Tổng cục Kỹ Thuật .
vẫn còn là Cục Vật tư –Nhiên liệu .; bấy giờ vừa tách ra thành Cục Vật Tư và
Cục Xăng-Dầu . Đồng đội hầu hết về các
đơn vị chiến đấu , xí nghiệp quốc phòng và từng tốp , lần lượt , bấy giờ gọi là
“ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước “ trên ve áo chúng tôi mới chỉ quân hàm Thiếu
úy .
Chia tay nhau không ai biết ai về đâu đi đâu ,
đi B dài hay B ngắn mà đôi khi gặp thoáng qua nhau trên Đường phố Hà Nội hoặc
qua đôi lần đến Cục Tôi lấy Vật Tư mà
thôi .
Mỗi
người mỗi ngả chiến trường , mỗi ngả hậu phương lớn _Miền Bắc . Bây giờ gần 50
năm , gặp lại mới tường những thăng trầm , gian khổ vất vả trong những tháng
năm chống Mỹ thống nhất đất nước và chiến tranh vệ quốc chống quân xâm lược
Trung Hoa 1979 . *****
Khi Nghiêm Sỹ Chúng và Nguyễn Minh Châu rời
bục giảng lên biên giới xây dựng căn cứ Kỹ thuật cấp Quân Đoàn cho một cuộc
chiến bảo vệ tổ qốc , thì những năm ấy
tôi đã vừa chuyển ngành về NamĐịnh sau 4 năm đeo quân hàm Trung úy và chưa hết
thời gian bảo lưu lương và hàm sỹ quan .
Chiến tranh Biên giới nổ ra tôi đưa cán bộ nhân viên đi khám tuyển tái ngũ , một số đi dự nhiệm ,
còn tôi vừa chuyển ngành , sức đang yếu
nên không dám gọi tái ngũ .
Ở lại hậu phương Tỉnh Hà-Nam-Ninh . Những mất
mát , hy sinh trên chiến trường Biên giới phía
Bắc với quân đội Trung quốc đã tỏ ra là mối đại họa cho tồn vong của nhà
nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam .
Kinh tế của toàn quốc chưa được phục hồi là
mấy mà khó khăn chồng chất , không ai hiểu vì sao khổ đến thế , họa xâm lăng
lại đến sau dăm ba năm hòa bình . Cả miền Bắc lại đi vào xây dựng Căn Cứ , cơ
sở sơ tán chống Trung quốc khi khả năng Địa phương bị chiếm đóng . .
Tỉnh ủy và ban tổ chức tỉnh không giao cho tôi
một chức vụ nào , nhưng tôi vẫn có nhiệm vụ như một phó trưởng ban Khoa học Kỹ
thuật , thành lập đơn vị Tự Vệ gồm Ủy ban +Hội Văn Học Nghệ thuật Hà nam ninh
với quyết định của Thành Đội Trưởng : Tôi là Trung Đội Trưởng và Trưởng ban làm
Chính trị Viên ( Vì quân số chỉ đủ lập thành Trung đội Tự vệ ) .
Trong chiến tranh phá hoại miền bắc của Mỹ
Nhiều cơ quan của tỉnh bị trúng bom , trong đóUỷ ban Khoa học và Hội Văn Học
Cũng bị bom trúng hầm , tử vong tại chỗ nhiều cán bộ kỹ sư , hòa bình quay về
tôi đã thay mặt cơ quan cùng đồng nghiệp thăm hỏi gia đình thương binh liệt sỹ
và người đã mất trong chiến tranh .
Sau đợt Gọi Tái ngũ của Tỉnh là đến Công An Tỉnh lo Sắp xếp Địa điểm sơ tán cho
từng Cơ quan của Tỉnh trênĐịa bàn thành phố .
Ủy ban Khoa học và Kỹ Thuật là một ban chức
năng của Ủy ban nhân dân tỉnh và Tỉnh ủy Hà –Nam- Ninh cũng được Ty công An lo
xếp nơi sơ tán theo 2 phương án hợp theo mức độ chiếm đóng của quân xâm lược
Trung Quốc .
Ngay từ khi về Ủy ban Khoa học Tôi đã phải
đảm nhiệm Phụ trách phòng Tổng hợp Khoa học và Bên Công An lấy hồ sơ bí mật bảo
vệ an ninh kinh tế và chính trị chính
trị với tư cách một sỹ quan Trung cấp ; bởi thế như mặc định một phó trưởng Ban
,
Tôi được yêu cầu và cử sang Ty Công an để nhận
địa điểm sơ tán:
_ Phương án 1 .
Trong phòng làm việc của Ty Công An chỉ định
cho tôi một địa điểm thuộc xã lân cận Thành phố và chỉ có cơ quan mình ở đó ,
không ai có thể biết khi chưa sơ tán .
Nhiệm vụ của tôi là : Liên hệ và thương
lượng với nhân dân trong xã và Chính quyền Xã để Bảo đảm cho Cơ quan lánh nạn
và làm việc nếu Thành phố bị chiếm đóng .
Trong những năm tại ngũ , thời còn trong trường
Đại học , tôi là Cán bộ Kiêm chức __ Trung đội Phó và có nhiều tuổi quân nên
thường được Đại đội cử đi Tiền Trạm khi chuyển quân hoặc quan hệ với nhân dân
địa phương trong lúc đóng quân đồn trú .
Tôi ngỡ tưởng Nhân dân cũng sẵn lòngvà vui vẻ nhận lời , nhường chỗ ở
cho cán bộ của Cơ quan Tỉnh Sơ tán lánh nạn . Nào ngờ : Sau khi chọn lựa từng
gia đình theo cung cấp tình hình chính trị kinh tế và đức độ của mỗi gia đình
xin tạm sơ tan khi cần mà ban đầu có nhiều nhà từ chối , chỉ đôi ba nhà đồng ý ngay . Tôi phải giải thích nói rõ Cơ
quan mình là cơ quan Khoa học , phần lớn là Trí thức nên Cán bộ Công nhân Viên
không như Người ta đã gặp khi sơ tán thời chống mỹ ; ; đồng thời giải thích
để nhân dân biết chủ trương và tình
huống cùng mối liên quan đến vận mệnh
của Tỉnh nhà .
Khi đã lọt tai người ta đồng ý cho chúng tôi
đạt bàn làm việc hoặc chỗ ăn nghỉ của cơ quan mình .
Việc Sơ tán không chỉ là liên hệ trước ,
không chỉ soát xét tài liệu cần thiết mang theo
và đóng gói gọn gàng đi được ngay khi có lệnh ; mà đến nơi sơ tán còn
cần ổn định nhanh để làm việc ; Cho nên Tôi phải vẽ Sơ đồ Nhà Xóm và đường đi
lối lại cùng với sắp xếp cho toàn Cơ quan thích hợp công việc và quản lý .
Trên cơ sở vẽ bản đồ trú ngụ của cơ quan cụ
thể và chi tiết để báo cáo trình bày
trong giao ban và thi hành khi nguy biến
.
Là một tỉnh lớn ở xa Biên giới , lại là Cơ quan khoa học và
Kỹ Thuật nên Tôi không mấy quan tâm đến chiến sự , bởi vốn tôi có thói quen
:khi đã làm nhiệm vụ chính trị nào thì hoàn toàn toàn tâm toàn ý đi vào chuyên môn nghiệp vụ theo trách nhệm
của mình , không bon chen , lấn sân người khác , cho nên , Khi quân Trung Quốc
xốc thế trận ban đầu làm ta tổn thất to lớn và Tôi lại được gọi đi lo liệu Căn
cứ Sơ tán _ _ Phương án 2
lùi sâu hơn vào địa phận hiểm trở hơn an toàn hơn phương án 1 .
Ngay trong phương án 1 Tôi đã phải 2 lần về
Ty công an lấy địa điểm vì địa điểm đầu tiên gần thành phố hơn giao thông tiện
hơn đã bị Liên Xã , nhanh chân lấy trước mà Cơ quan Công An không hay , bởi
Liên Xã nằm vòng ngoài bảo vệ lo liệu của Công an , nên họ thính tai co cẳng
chạy trước , làm tôi phải đạp xe về Xã lần 2 xa hơn lần đầu.
Phương án 2
, chúng tôi được chỉ định sơ tán sâu trong Huyện Nho Quan cũ qua cả Me ,
phà Đế Hoàng long ; Từ Quốc lộ 1A qua Gián Khuất còn rẽ sâu vào nhiều Km và
vượt qua ao lạch khó đi ,; Nếu theo Quốc lộ 6 B cũng phải vượt qua quãng đường
liên thôn như đi từ Quốc lộ 1 A .
Lẽ
đương nhiên cơ quan ở sâu trong làng
giáp núi có hiểm trở hơn , an toàn hơn , nhưng việc quản lý Hoạt Động Khoa học kỹ thuật cũng khó khăn hơn và đời sống anh
chị em sẽ kham khổ hơn . Riêng chuyện đi lập căn cứ sơ tán tôi đã phải liên hệ với Ủy ban nhân dân và Huyện
ủy rồi mới xuống được xã .
Khi đi lập căn cứ như vậy tôi đã thấy đời
sống nhân dân nơi đây quá khó khăn và
chênh lệch nhiều so với thị thành . Tuy
rằng Đồng Giao , Quán Cháo xưa kia là rừng thiêng nước độc , ai sống ở đó lâu ngày mà về thì bụng ỏng da
xanh , nay không còn nữa , nhưng còn
nguyên dáng hình một vùng nghèo nàn , bữa cơm chủ yếu là khoai lang ; nhà nào
trên lưng chừng nhà cũng hàng tạ khoai lang thái lát phơi khô , đường đi quanh
co ẩm thấp . Tôi đã từng xét duyệt các đề tài về Giống Khoai Lang Hoàng Long và
cho đăng tải thông tin khoa học như một cứu cánh của nông nghiệp địa phương và
toàn quốc của một thời Ông Đại Tá Từ
Giấy Cho đăng tải và ông Nói Rằng : Ngô Bổ hơn Gạo . Tuy thế cái nghèo đói của
một đời khoai sắn qua ngày se thắt lòng tôi khi nhìn vợ con chỉ hơn người bát
cơm độn mỳ sợi .
Một thời gian khó ,một
thời chiến tranh và quân xâm lăng rình rập ,
bước chân người sỹ quan kỹ thuật
trên mọi miền tổ quốc không có gian khổ khó khăn nào giống nhau , chỉ có một
điều giống nhau từ cùng một cái nôi Đại học Kỹ Thuật Quân Sự là : không chùn bước trước khó khăn , không sợ hy sinh gian khổ , sống học tập và
chiến đấu trên mặt trận não cũng kiên
trì
dũng cảm và
bằng trí tuệ , sức lực của chính bản thân mình không đòi hỏi địa vị cao sang ,
vật chất no đầy .
Cuộc chiến vệ quốc chống Trung Quốc xâm lược
dần dần đi vào quá khứ một cách tiệm tiến và
chiến tranh phai nhạt dần cho tới một thời kinh tế vẫn ngày càng khó
khăn cuộc sống đời dân sự của gia đình vợ con tôi vẫn một màu áo lính mà sỹ
quan quân đội cũng bị bạc đãi khi cài thiển cận như một kính râm che khuất măt
người chỉ nhìn thấy rõ khi địa vị đời sống tòa ra phát ra màu hào quang . Cuộc sống còn trong thời sung sức nhưng gian
truân còn tăng gấp bội .
…
Tôi sẽ viết tiếp trong những trang sau ./ Thank you,
Thursday, February 5, 2015
***************.
Hồi ký của Thiếu Tướng Nghiêm Sỹ Chúng
Rút trong Tập
1
CÔNG
VIỆC Ở PHÒNG QUÂN KHÍ
VÀ
CHUYẾN ĐI KIỂM TRA SƯ ĐOÀN 338
Rời T5 , tôi
trở về Phòng Quân khí – Cục Hậu cần Quân đoàn 5 . Lúc này Tư lệnh
và các cục khong còn đóng trong nhà dân ở Thượng Cường nữa mà đã
chuyển về xã Mai Sao, Huyện Chi Lăng
Tỉnh Lạng Sơn .
Từ Đồng mỏ ,theo đường số 1 đi về phía
Bắc khỏa 5 km , ta sẽ bắt gặp một con đường rẽ trái dẫn vào một
thung lũng dài và hẹp , đó chính là Xã Mai Sao. . Phía nam xã Mai Sao
là những dãy núi đá , phía bắc là những dãy núi đất ở giữa là những
cánh đồng và làng mạc .
Xã Mai Sao chia làm hai phần . :Phần bên
ngoài gần đường quốc lộ là Mai Sao Hạ ; đó là nơi đóbg quân của Bộ
Tư lệnh , Bộ Tham mưu , Cục Hậu cần . Đi sâu vào trong là SâMi Sao
Thượng -= nơi đóng quân của Cục chính trị .
Giữa cánh đồng dài và hẹp của Xã Mai
Sao có một dòng suối nhỏ , dòng nước xanh trong suốt bốn mùa , hai
bên bờ cây cối um tùm , quang cảnh hoang sơ nhưng rất thơ mộng . Doanh
trại của Cục hậu cần nằm dưới chân dãy núi đá .Trên các bãi
trốnngh mọc lên những ngôi nhà mái lợp lá cọ . . Nhìn tứ xa không
khác gì những bản làng của Người Dân tộc .
Trở lại
Phòng Quân khí , Tôi gặp lại đồng Chí Quốc Thanh – Thiếu Tá – Trưởng phòng . Nhân sự của Phòng vẫn không có gì
thay đổi . Các Sỹ quan trợ lý bao gồm các Anh Nghi –Thượng Úy,-nguyên
là Trợ lý phòng huấn luyện Trường Đại học Kỹ Thuật Quân sự cùng
được điều lên Quân Đoàn một lượt với tôi ; hai đồng chí Thoan và Đồng
chí Khê –nguyên là giáo viên Học viện Hậu Cần đều là Tung Úy . ; hai
sỹ quan mới ra trường là đồng chí Độ
và đồng chí Lộc đều mới được phong Thiếu Úy . . Phòng có một
nhân viên là Đồng chí Hiển – Thượng sỹ
; bây giờ có thêm tôi là Thượng Úy . và mới được bổ nhiệm Phó
phòng . ;Như vậy cả phòng mới có 8 người .
Mới về , tuy có Chức danh Phó Phòng nhưng
tôi chưa được đồng chí Trưởng phòng
phân công nhiệm vụ gì cụ thể , Qua tìm hiểu , tôi cũng
được biết chỉ có 2 người có chức trách khá rõ ràng là đồng
chí Độ ,-Trợ lý thống kê , -người nắm tất cả số liệu về công tác
nghiệp vụ của Phòng và đồng chí Lộc –Trợ lý
vật tư –người chịu trách nhiệm quản lý vật tư của Phòng . Tất cả các sỹ quan cò
lại gồm anh Nghi , anh Thoan và anh Khê được chỉ đạo theo kiểu chỉ đâu
đánh đấy . , hay ta còn gọi là :trợ lý “bắn phát một “ . Tôi mới về
có chức danh là Phó Phòng nhưng với cung cách làm việc này có lẽ
tôi cũng sẽ trở thành Phó Phòng “bắn phát một “ hoặc là loại cấp
phó “có cũng như không “ . Trong
phòng chưa có Trợ lý Đạn , vì vậy không có người nào theo dõi công
tác ký thuật và đồng bộ đạn dược ,
đó là một công tác rất quan trọng và phức tạp ., vì vậy nếu
không có người quả lý thì đây sẽ
là một điểm yếu chí mạng của Phòng.Ngoià ra, Phòng cũng chưa có
người theo dõi về khí tài Quang học , các loại máy , ngắm ,kính
ngắm .của pháo cao xạ , pháo mặt đất và vũ khí Bộ binh . Các mặt
công tác như sửa chữa vũ khí , khí tài , công tác huấn luyện cũng
không được phân công cụ thể cho ai cả .Do còn thiếu về Cán bộ kỹ
thuật chuyên ngành , số trợ lý hiện có lại không được phân công chức
trách cụ thể nên công việc của Phòng rất bận rộn .Các mệnh l;ệnh
,chỉ thị ,hướng dẫn từ cấp trên đưa xuống , các báo cáo tử các đơn
vị gửi lên bao gồm tất cả các mặt công tác một mình đồng chí
trưởng phòng đọc không xuể . Các trợ lý và ngay cả Phó phòng cũng
chỉ được sử dụng theo kiểu“bắn phát một“,nên mộtr số mảnng công
việc như tôi đã nêu trên,phòng không quả lý được.Đồng chí trưởng phòng
bù đầu làm việc suốt ngày đêm , nhưng không thể nào một mình nhồi
nhét tất cả các số liệu của nhiều mảng công việc của phòng vào
cái đầu của mình được . vì vậy khi cấp trên cần hỏi bất cứ vấn đề
gì thì đồng chí trưởng phòng hoặc là không trả lời được,hoặc là
nói chung chung để đối phó.Các số liệu báo cáo lên cấp trên hầu như
đều không chính xác .Tuy nhiên,do bảo thủ ,thiếu kinh nghiệm và khả
năng tổ chức , đồng chí hầu như không có ý định gì nhằm cải tổ lại
công việc của phòng.Cả phòng như một cỗ máy chạy suốt ngày đêm luôn luôn
tất bật,hầu như không có thứ 7 chủ nhật,nhưng chỉ riêng công việc nắm
số liệu để đối phó với các câu hỏi của cấp trên cũng không làm nổi
chứ chưa nói gì tới việc chỉ đạo các đơn vị .
Một lần vào buổi tối , sau khi ăn cơm
xong , mọi người đang ngồi nghỉ đồng chí trưởng phòng mời đồng chí
Toàn – Thiếu Tá trợ lý quân lực sang đánh cờ ; cuộc cờ kéo dài tới
10 giờ đêm , nhiều người đã lên giường trùm chăn đi ngủ . Ở miền biên
giớ xa xôi này không có điện , không có TIVI thì việc đi ngủ sớm cũng
là việc thường tình ,nếu không phải chuẩn bị gì cho công việc ngày
mai , hoặc phải hoàn thành gấp rút một văn bản , một bản thống kê
số liệu nào đó theo phân công của trưởng phòng . Lúc này ,sayu khi tan
cuộc cớ , đồng chí toàn đã ra về thì đồng chí trưởng phòng đứng
dậy , vươn vai rồi vỗ tay lên trán mấy cái , sau đó đồng chí nói :“ Ta
họp phòng một lúc các đồng chí nhỉ “.Tất cả mọi người lục tục bò
dậy , ngồi trên phả của mình ; đồng chí lấy ra một quyển sổ tay ,
và bắt đầu nói ; khi hai mắt của đồng chí lim dim và cái đầu gật
gật gà gật gù ,đồng chí không nhìn vào bất kỳ một người nào cả
,không cần biết mọi người có nghe hay không ; tôi cũng có mặt trong
cuộc họp đó .Nhưng không hiểu do mới về Phòng vag chưa nhập cuộc được
,hoặc là mhững điều đồng chí nói quá mien man , không có trọng tâm
trọng điểm gì nên tôi không thể nào nhập tâm được . Đến 12 giờ đêm ,, khi
bên cạnh- phòng Quân Y đã tắt đèn đi ngủ hết ( hai phòng ở chung một nhà ) , mỗi đầu
là một Phòng , chỉ cách nhau một vách liếp ); đồnng chí chấm dứt
bài phát biểu cà kê ,dê ngỗng của mình và tuyên bố kết thúc cuộc
họp ; mọi người chỉ chờ có thế
và lăn ra ngủ tiếp.
Hôm sau tôi mới nói vcới đồng chí trưởng phòng :
- Tại sao hôm qua anh không
triệu tập họp phòng từ lúc 7 giờ mà để cho đến 10 giờ , sau khi anh
đánh cờ xong mới họp và họp đến tận 12 giờ đêm trong khi không có
việc gì cấp bách cả ?lLàm cho cả phòng thức khuya ảnh hưởng đén
công việc hôm sau . Đồng chí thản nhiên trả lời :
-
Ta
phải làm như thế để cho Phòng Quân Y
bên cạnh biết phòng ta làm
việc căng thẳng như thế nào .
Như vậy là , bản thân công việc đã rất
căng thẳng ; việc phòng chưa đủ khả năng nắm chắc thong tin để
là tham mưu cho cấp trên và chỉ đạo cấp dưới lại càng làm cho công
việc căng thẳng hơn . . Lẽ ra phải tìm mọi cách để cải thiệ được tình hình thì đồng
chí trưởng pòng lại tạo thêm những căng thẳng giả tạo khác .
Một
hôm , Thủ Trưởng Cục Hậu cần đề nghị phòng quân khí cung cấp số
liệu về lượng pháo đi sửa chữa lớn tại các nhà máy TCKT của từng
đơn vị trong toàn Quân đoàn ; vì không phân công cho đồng chí nào phụ
trách công tác sửa chữa , mà vẫn để cho các đơn vị trực tiếp liên
hệ với các nhà máy đưa pháo đi sửa chữa lớn như thời kỳ Quân đoàn
chưa được thành lập ; đơn vị đưa
pháo đi sửa chữa không báo cáo qua Phòng ; vì thế lúc này không một
trợ lý nào trong phòng có thể cung cấp được số liệu để đồng chí
trả lời Thủ Trưởng Cục . . Đồng chí trưởng phòng buộc phải gọi
điện xuống từng đơn vị . Đường dây thong tin xuống các đơn vị , đặc
biệt là các đơn vị ở xa không tjhông suốt ; đồng chí ôm máy điện
thoại cả ngày ; tiếng đồng chí lại to ,vọng từ vách núi ra ngoài
những người đi đường đều nghe thấy hết .. Suốt ngày gọi khản cổ ,
mà vẫn không thu thập đủ số liệu . Tôi không biết rồi đồnng chí trả
lời cấp trên ra sao ! Sau này có lần
gọi điện như thế , đồng chí bị pPhòng bảo vệ phê bình là vi
phạm quy tắc bảo mật .
Một hôm khác , khi vừa ăn sáng xong ,
tôi cũng chưa hiểu phải làm gì ,vì
tất cả chúng tôi đều là Sỹ quan “ bắn phát một “ theo cách điều
hành của Trưởng phòng , thì nhận được tin hôm nay có xe của Phòng
vận tải chơ2r hàng xuống Sư đoàn 3 , lập tức đồng vhí lệnh cho tôi :
“ Anh theo xe của p\Phòng vận tải xuống Sư đoàn 3 nắm tình hình hình
vừa rồi đơn vị tiếp nhận vú khí từ kho của TCKT như thế nào ! .
Nhận được lệnh tôi vội vàng xuống bếp cắt cơm , lấy tiền ăn , phiếu
gạo để kịp r axe trước khi xe nổ máy . ( Thời đó , xuống đơn vị đi
kiểm tra vẫn phải làm những thủ tục rất phiền hà như thế )
Xuống đến Sư đoàn , vào
Phòng Hậu
cần , mới chỉ kịp uống nước và nói vài câu chào hỏi xã giao , thì chuông điện thoại của Phjòng Hậu
cần reo lên ; đồng chí Phó phòng Hậu cần
Sư đoàn 3 sau khi nghe xong
điện thoại quay lại nói với tôi :
-
Phòng
Quân khíw có điện gọi anh vcề gấp .
-
,nội
dung anh định làm việc với banBan Quân khí Sư đoàn sẽ có người lên
Phòng Quân khí báo cáo rồi !
-
Cũng
may xe chở hàng của phòng Vận tải xuống sư đoàn trả hàng nhanh nên
tôi có thể theo xe về , nếu không có xe về ,thì chỉ còn có cách là
“cuốc bộ “ một quãng đường trên 20 km
Sau một thời gian quan
sát ,cách điều hành công việc , trong một buổi họp , giao bam hàng
tuần của Phòng , với tư cách là Phó phòng tôi phát biểu : Tôi xa
Phòng Quân khí đã mấy tháng , nay được cấp tyển bổ nhiệm làm Phó
phòng và tôi lại được điều về Phòng công tác ; kinh nghiệm điều hành
ở phòng tôi cũng chưa có bao nhiêu , . Tuy nhiên ,qua một thời gian trở
lại Phòng công tác , tôi thấy Phòng ta làm việc rất rối bận , cả
Phòng không có thời gian nghỉ ngơi , nhưng hiệu quả công tác thì rất
thấp . Sở dĩ như vậy vì chính
chúng ta làm việc không có kế hoạch và việc phân công chức trách cho
từng đồng chí trợ lý trong phòng không cụ thể , rõ ràng ; nhiều nội
dung công việc bị bỏ trống , tình hình ở đơn vị chúng ta không nắm
được . Nếu cứ tiếp tục như thế này chúng ta khó có khả năng hoàn
thành chức trách của mình ; vì vậy tôi đề nghị : Phải chấn chỉnh lại công
tác kế hoạch và phân công chức trách đoió với các trợ lý trong
phòng ; cụ thể là :
1-
Phải
phân công công việc đối với các trợ lý trong phòng theo chức trách .
Những nội dung công việc nhất thiết
phải có người chuyên trách chịu trách nhiệm là :
-
Công
tác xây dựng kế hoạch
-
Công
tác quản lý số lượng ,chất lượng ,tình trạng kỹ thuật và đồng bộ
đối với vũ khí đạn dược .
-
Công
tác sửa chữa
-
Công
tác huấn luyện
-
Công
tác quản lý số lương , chất lượng máy ngắm kính ngắm và khí tài
quang học .
Phải nắm được
những vấn đề đó thì thì mới có
thể trả lời được những câu hỏi của cấp trên trước khi nói đến việc
làm tham mưu cho cấp trên và chỉ đạo cấp dưới trong phạm vi của ngành
. Công tác quản lý ngành vũ khí , khí tài đạn dược không thể chỉ dựa vào một bản báo cáo
thực lực vũ khí đạn dược do đồnng chí Độ tổng hợp và một quyển
sổ thống kê vật tư của đồng chí Lộc . Việc không nắm được số pháo
đi sửa chữa lớn ở nhà máy là một bài học kinh nghiệm
2-Trong tuần
phải có kế hoạch công tác . việc phân công công việc cho từng trợ lý
trong tuần phải theo chức trách đã được quy định ; không nên đột nhiên
nghĩ ra một điều gì là lập tức đó là lập tức ra lệnh ngay cho một
đồng chí đi làm , đó là cách làm việc không có kế hoạch và sử
dụng trợ lý theo kiểu “ bắn phát một “
Rút kinh nghiệm như việc phân công tôi đi
F3 , vừa đến nơi đã gọi giật về .
Như vậy không phải là cách làm việc chủ động và có kế hoạch .
2-
Phải
bố trí thời gian nghỉ ngơi cho cán bộ ; không nên làm việc triền mien
suốt ngày đêm , cả tuần không có ngày nghỉ để bảo đảm sức khỏe cho
cán bộ làm việc lâu dài .
-
Sauk hi tôi phát biểu xong , không thấy
đồng chí Trưởng phòng nói gì , không tỏ ra đồng ý tiếp thu hay không
tán thành . Nhưng trên nét mặt tôi thấy đồng chí tỏ ra rất khó chịu
.
-
Từ
ngày Phòng thành lập tới nay đã 4 tháng , có lẽ chưa một ai trong
Phòng có ý kiến về phương pháp tổ chức công việc của Phòng , bây giờ tôi mới
từ T5 trở lại đã có ý kiến như vậy , làm sao đồng chí có thể tiếp
thu được .
Sau cuộc họp , công tác điều hành của Phòng
Quân khí hầu như không có gì thay đổi
. Công việc vẫn rối tinh , rối mù , nhưng hiệu quả thì chẳng
đâu vcào đâu . Tôi và các sỹ quan đã từng có thời gian công tác đều
được sử dụng theo kiểu “ chỉ đâu đánh đấy “ , chỉ có 2 sỹ quan mới
ra trường là có chức trách . Mọi thong tin trong phòng chỉ dựa vào
quyển báo cáo thực lực vũ khí , khí tài,đạn dược do đồng chí Độ
tổng hợp từ báo cáo của đơn vị và quyển thống kê vật tư nhóm 2 của
đồnng chí Lộc .. Nhiệm vụ của Phòng là : nNhận trewen cấp dưới “; do
một mìnnh phải ôm rất nhiều tài liệu , đồnng chí Trưởng phòng không
thể nào đọc xuể . Rất nhiều báo cáo của đơn vị không ai đọc ; rất nhiều vấn đề tồn tại ở đơn vị không ai giaỉ quyết . Sau này
Trưởng phòng được điều động lên Quân khu , tôi lên thay và tiếp nhận
đống tài liệu mà đồng chí bàn giao lại ; tôi giở tập báo cáo của
sư đoàn 3 do đồnng chí Dư – Trưởng
ban Quân khí Sư đoàn viết ,có một câu khẩu hiệu : chữ in hoa , nét
chữ đậm :
” ĐỀ NGHỊ ĐỒNG CHÍ TRƯỞNG PHÒNG ĐOC BÁO CÁO
CỦA ĐƠN VỊ “
Nhưng ngay cả câu khẩu hiệu này trưởng
phòng cũng không hề đọc tới . . Tuy nhiên vào thời gian đó , khi cuộc
chiến tranh biên giới 17/2/1979 vừa
kết thúc ,chưa có tác chiến xảy ra , các đơn vị chủ yếu chỉ
làm công tác tổ chức lại lực
lượng và bổ sung trang bị nên những điểm yếu kém của Phòng Quân khí
chưa bộc lộ ra . Nếu thời gian này tác chiến xảy ra thì tình hình bảo đảm
vũ khí , khí tài ,đạn dược sẽ rất rối ren . Điều này cũng là hậu quả của công tác điều
động cán bộ ; lẽ ra với một đơn vị mới được thành lập, việc bổ
nhiệm một đồngchí làdm thưởng phòng quân khí , ít ra phải là một
người kinh qua công tác này ở các đơn vị , thì lại bổ nhiệm một
người chưa một ngày ở đơn vị và chưa bao giờ điều hành ngành quân khí tới cấp trung đoàn .
Đồng chí Quốc Thanh trong kháng chiến chống Pháp là Du kích xã , khi
nhập ngũ cuộc kháng chiến chống Pháp đã gần kết thúc . Hòa bình
lập lại , đồng chí được đi Trung Quốc học về vũ khí , tốt nghiệp
về nước làm giáo viên ở Trường Sỹ quan Hậu cần rồi sau đó là
trưởng ban xây dựng ( Có lẽ do không có khả năng làm giáo viên vũ khí
); Khi thành lập quân đoàn , với quân hàm Thiếu Tá và đã từng học rồi làm giáo viên vũ
khí ,đồng chí được HVHC ( Có lẽ đơn vị được giao trách nhiệm tổ
chức bộ khung cho Cục Hậu cần Quân đoàn 5 )điều động lên là Trưởng
phòng quân khí , các trợ lý của phòng hoặc là giáo viên hoặc là
học viên mới ra trường chưa hề có kinh nghiệm là công tác ở đơn vị.
Từ sau
cuộc họp đó , để khỏi phải nghe những lời góp ý của tôi về phương
pháp công tác của Phòng,đồng chí Quốc Thanh thường xuyên phân công tôi
đi công tác dài ngày ở đơn vị ; và như vậy chính là dịp để tôi có
thể đi nhiều nơi và nắm được tình hình ở các đơn vị và có điều
kiện để tích lũy kinh nghiệm chỉ huy và điều hành sau này .
Chuyến công tác dài ngày đầu
tiên của tôi là lên Sư đoàn 338 . Vào thời gian đó , theo sự điều động
của Bộ , Quân đoàn 2 sau khi tác chiến ở CamPuchia được điều ra phía
Bắc . Để thực hiện nhiệm vụ của mình , Tư Lệnh Nguyễn Hữu An và cắc cơ quan của Quân
đoàn 2 tổ chức khảo sát địa hình trên hướng phòng thủ của Sư Đoàn
338 . Tư lệnh Nguyễn Hữu An là một vị Tướng dày dạn chiến trận ; tôi
cũng có vinh dự là người cùng ở
khu tập thể Nam Đồng với Ông ; Căn hộ của bố tôi ở Tầng 1 ,còn Tư
lệnh Nguyễn Hữu An ở Tầng 4 nhà số 5 . Tuy ở cùng khu tập thể ,
cùng nhà nhưng vì tôi thường xuyên không có mặt ở nhà và Tư lệnh
cũng thường xuyên đi chiến trừng nên ít khi được gặp mặt tư lệnh .Ông
là một người cao lớn , trên chiến trường trông rất oai phong , nhưng về
đến nhà Ông cũng làm rất nhiều việc ; mọi người thường thấy Ông xếp
hàng , xách nước lên tầng 4 ; Tư Lệnh Quân đoàn 5—Thiếu Tướng Hoàng Đan
và cán bộ các cơ quan Quân đoàn 5 cũng cùng đi với đoàn khảo sát
địa hình của Quân đoàn 2 . Do ó đã có 4 tháng làm chỉ huy trưởng căn
cứ T5 , tôi khá thong thuộc địa hình trên hướng phòng thủ của F338 ,
nhưng lần này tôi được lên tới những Chốt tiền tiêu của Sư đoàn ở
Bản Chắt . Với cương vị là Phó phòng Quân khí , tôi cùng đồng chí
Phạm Bá Nhường , Thượng úy – Trưởng ban Quân Khí Sư đoàn đi kiểm tra
công việc bảo quản vũ khí đạn dược trên các chốt tiền tiêu ,
Đồng chí Nhường là Học viên chuyên tu
khóa 2 của Đại học KTQS , nhận ra nhau là an hem cùng trường,chúng tôi
làm việc rất ăn ý .. Anh Nhường sinh năm 1940 , hơn tôi 5 tuổi , anh là
một cán bộ rất hăng hái , sốc vác nhưng tính tình khá nóng nảy .
Điều cảm nhận đầu tiên của tôi khi đi kiểm tra trên các chốt tiền tiêu
là đời sống của bộ đội quá gian khổ ,
cái khổ thứ nhất là không có nước ; nước phải gùi từ chân
núi lên , chỉ đủ để nấu ăn và đun nước uống .Nước tắm rất hiếm ,
hầu hết bộ đội đều bị các bệnh ngoài da , đặc biệt là ghẻ lở .
Quần áo của bộ đội thì rách nát ;
đồng chí nào cũng mặc một cái quần có hai miếng bích-kê quay về
phía sau còn phía trước thì trông vẫn lành lặn .và gọi đó là “ ưu
tiên phía trước “; đúng là trong cái khó lại ló cái khôn .Dạo ấy
vải may quân trang có rất nhiều nguồn , nhiều loại vải có chất lượng
rất thấp như loại vải của Triều Tiên.Bộ đội suốt ngày phơi mình trên
chốt , dầm mưa dãi nắng , hoạt động với cường độ cao . Vì vậy, quần áo chóng rách là lẽ
thường tình.Quần đã vậy , áo cũng không khá gì hơn ; áo đồng chí
nào cũng có vài miếng vá , cái câu :
“ áo anh rách vai ,quần tôi có
hai miếng vá “ tưởng chỉ có trong
kháng chiến chông Pháp , giờ
đây lại là thực tế hiển hiện ra trước
mắt chúng tôi .
Đến bữa
cơm trưa ,bộ đội từ các chốt về bếp đại đội lấy cơm ; có chốt cách
bếp phải mấy quả đồi ; dụng cụ mang theo để lấy cơm là cái hộp đạn
K56 sau khi đã đục ra lấy hết đạn .
Trên chốt ,
dưới các chiến hào ,bộ đội ngủ trong các hầm và hàm ếch . Đạn dược
được để trong hàm ếch . Vào thời gian đó , trời đang mưa to nhiều
đoạn giao thong hào còn ngập đầy nước và bùn . Liều chính , liều
phụ đạn cối 60 , cối 82 , B40 , B41đã mở gói để tại các vị trí chiến đấu trong điều kiện như
thế . , chỉ trong một thời gian ngắn là xuống cấp , không thể sử dụng được .
Tuy nhiên
trong quá trình kiểm tra , chúng tôi cũng tình cờ phát hiện ra một
điều khá thú vị . . Khi đang đi trong chiến hào trên cao điểm , chúng
tôi tìm thấy một viên đạn DKZ 82 – B10của Liên-Xô còn để trong ống bảo
quản ; ống bảo quản thì ngập trong bùn và nước từ rất lâu , tuy
nhiên khi mở ống bảo quản viên đạn bên trong vẫn còn thơm phức . Điều
đó đã gợi cho chúng tôi hướng dẫn cho đơn vị sử dụng ống bảo quản
đạn DKZ 82-B10 để bảo quản liêì phóng Cối và B40 , B 41. Trên các
chốt tiền têu .
Phía dưới cao điểm là hầm
Quân y . Bên ngoài không có lều ,lán gì , ;trong hầm có cả chiến sỹ
nữ . Những chiến sỹ nữ ở đây , hàng ngày đang phải chịu đựng một
cuộc sống rất gian khổ và hình ảnh của họ đã làm cho chúng tôi
thấy rằng những gian khổ của chúng tôi chưa có gì đáng kể .
Trong cuộc họp rút kinh nghiệm kiểm tra ,
đồng thời cũng là cuộc khảo sát địa hình khu vực phòng thủ của Sư
đoàn 338 , Đồng chí Hoàng Đan Tư lệnh Quân Đoàn có nói với chúng tôi
rằng trong đoàn đi kiểm tra và khảo sát địa hình còn có một cán bộ
cao cấp của Nhà Nước , chức vụ tương đương với Bộ Trưởng . Sau cuộc
kiểm tra , đồng chí này nói với Tư Lệnh Hoang Đan :
_ Tôi không ngờ anh em bộ đội ở trên chốt lại khổ như thế này.Tư lệnh Hoàng Đan đáp lại :
-Tôi cũng không ngờ đến bây giờ anh mới
biết bộ đội trên chốt khổ như thế này .
Sau cuộc kiểm tra , Cục Hậu cần tăng
cường nghiên cứu và thực hiện các biện pháp phòng và chữa các bệnh
ngoài da cho bộ đội ; Phòng Quân khí nghiên cứu các biện pháp bảo
quản vũ khí và đạn dược trên các chốt tiền tiêu , đặc biệt là
nghiên cứu cách bảo quản liều phóng các loại đạn cối,đạn B40 ,B41
trong điều kiện cất giữ trong chiến hà ,sẵn sàng chiến đấu. Do điều kiện kinh tế còn rất
nhiều khó khăn , cả hai đầu đất nước có chiến tranh ,cuộc sống của
các chiến sỹ trên chốt không thể cải thiện trong ngày một ngày hai . Nhiều cuộc kiểm ta đột xuất và định
kỳ
của các cấp
trung đoàn , sư đoàn đến quân doàn , Quân khu và Bộ vẫn thường xuyên
diễn ra . . Nhưng để thay đổi được tình hình còn cần rất nhiều thời
gian và công việc . Các chiên sỹ trên chốt còn phải chịu đựng gian
khổ một thời gian dài . . Chưa hiểu hết khó khăn trong việc tổ chức
đời sống , bảo đảm hậu cần , kỹ thuật cho các chốt tiền tiêu , sốt
ruột với tình hình chậm chuyển biến có người đăt câu thơ và lan
truyền tới tận các đơn vị và cơ quan Quân đoàn răng :
Bộ lên thì Bộ rất thương
\ Qua khỏi Cầu Lường thì Bộ lại
quên !
( Cầu Lường
là Cầu phân chia ranh giới giữa hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang ).
Nhưng trên vai của bộ lúc này không chỉ
có có một quân đoàn 14 ở Lạng sơn , với hơn 8 vạn quân mà còn cả
một giải biên cương phía Bắc với Quảng Ninh , cCao Bằng , Hà Giang ,
Lào Cai , Còn cả mặt trận phía nam không lúc nào im tiếng súng . Đó
là tình thế của chúng ta trong những ngày cả hai đầu đất nước đều có chiến tranh ./.
NHỮNG
NGÀY ĐẦU Ở KHO K56 --
---Kho
Gốc Me
Đến
năm 1980 , đồng chí Đại úy Lê Xuân Ngắn –Tiểu đoàn Trường tiểu đoàn
kho K56 được cử đi học và tôi được
phái xuống K56 làm Tiểu đoàn Trưởng
.Thực ra khi đã được bổ nhiệm làm Phó phòng Quân khí Quân đoàn
,chức vụ tương đương với Trung đoàn Phó người ta sẽ phải cân nhắc xem
có nên nhận cái chức Tiểu đoàn Trưởng kho hay không ? Vì nếu nhận mà làm không ra gì thì
rất mang tiếng vì đã là Phó phòng mà làm không nổi cái chức Tiểu
đoàn Trưởng . Công việc của người chỉ huy ở kho không chỉ là công việc chuyên môn đơn thuần . Ngoài
công việc chuyên môn ở một kho đạn thời chiến rất nặng nhọc , vất vả
, còn phải lo đến chuyện ăn ở , sinh hoạt, công tác tổ chức và chỉ
huy một đơn vị .Nhưng với tôi không
có gì đáng ngại , tôi đã hơn 3 tháng ở căn cứ T5 , tôi đã quen với
việc chỉ huy phân đội , Vả lại việc tôi có Phòng Quân khí lúc này
là không thích hợp . Đồng chí
Trưởng phòng chắc chắn là không thích sự có mặt của tôi . Tôi vui vẻ
nhận quyết định về K56 với ý nghĩ :
” Đi một ngày đàng , học một
sàng khôn “ , muốn trở thành một người chỉ huy có kinh nghiệm phải
trải qua nhiều cương vị công tác .
Lúc này K56 mới được thành
lập và mới tiếp nhận kho Gốc Me và Yên Vượng , công việc đang rất bề
bộn . Hàng ngày , vũ khí đạn dược được từ Bộ cấp xuống cho Quân
đoàn được vận chuyển bằng tàu hỏa lên Ga Đồng Mỏ và sau đó được
ô-tô của Tiểu đoàn 472 Cục Hậu cần chở về kho .Trữ lượng đạn dược của kho Gốc Me
và Yên Vượng từ 1.800 tấn tăng dần lên đến khoảng 3.000 tấn theo quy
định dự trữ của Quân đoàn . Các sư đoàn bộ binh và các trung đoàn
binh chủng , sau chiến đấu được bổ
sung đạn dược,
Hàng ngày đạn dược từ kho Gốc Me được
vận chuyển đến tất cả các đơn vị của Quân đoàn đóng trên khắp địa
bàn của Tỉnh Lạng Sơn . Công việc tiếp nhận , cấp phát đạn dược
hàng ngày tại kho Gôc Me luôn luoon diễn ra rất nhộn nhịp .Tôi xuống
kho Gốc Me ,hận nhiệm vụ mà không hề mà không hề có cuộc bàn giao
nào . Đồng chí Lê Xuân Ngần đã rời khỏi đơn vị trước đó ít ngày .
Sổ sách, số liệu thống kê vũ khí đạn dược nằm trong tay một đồng
chí nhân viên thống kê là Thượng sỹ Nguyễn Văn Hùng . Thật ra lúc này
mà yêu cầu đồng chí Ngắn tiến hành được một cuộc bàn gia thì không phải dễ
dàng. Đồng chí Ngắn là Tiểu đoàn Trưởng , nhưng hầu như không có khái niệm gì
về quản lý khí tài , đạn dược .Vì đồng chí vốn là Sỹ quan Bộ binh . Mặt khác ,
vũ khí đạn dược mới được chuyển về từ T 2đang còn ngổ ngang .;số liệu trên sổ
rách và số liệ hiện có còn khác nhau xa . Nhưng vấn đề là cần có người chỉ huy
để điều hành Tiểu đoàn ngay nên không nhất thiết phải tiến hành bàn
giao .
Ngày đầu tiên xuống kho
Gốc Me ,tôi bắt đầu tiếp xúc với các cán bộ và nhân viên kho . Chính
trị viên kho là đồng chí Thượng úy Tăng Văn Mò , xuất thân là một Sỹ
quan Bộ binh , quê ở Bắc Giang ,
trình độ văn hóa chưa hết Phổ thong Trung học , trước khi đi bộ đội
đồng chí là dân thuyền chài nên rất có tài bắt cá . Đồng chí mò sinh
năm 1942 , lúc đó 37 tuổi . Tiểu đoàn Phó là đồng chí Lương sinh năm
1938 , quê Nam Hà , xuất thân là chiến sỹ lái xe . Đồng chí Lương phụ
trách công tác hậu cần . Tham mưu Trưởng Tiểu đoàn là đồng chí Thoan
, Trung úy , đã từng ở Phòng Quân khí về sau được điều về Tiểu đoàn
Kho . Trong 3 đồng chí thì chỉ có đồng chí Thoan là người có ít
nhiều kiến thức về đạn . Vì trước đây đồng chí cũng đã từng là
giáo viên về vũ khí , đạn ở trường SQHC được điều về phòng Quân khí
Quân đoàn .. Nhưng có lẽ cho đến lúc này đồng chí vẫn chưa thể thích
nghi được với công việc ở đơn vị . Có nhiều người khi phải xa rời
một môi trường sống và làm việc quen thuộc , họ rất khó thích nghi
với một môi trường sống mới và
một công việc mới . . Từ trường SQHC được điều về Phòng Quân khí Quân
đoàn , đồng chí Thoan chưa biết mình sẽ phải làm việc như thế nào , lại không được đồng chí Trưởng phòng
hướng dẫn và phân công cho một công việc gì cả , đồng chí Thoan cứ
ngơ ngơ , ngác ngác cho đến khi được điều về làm Tham Mưu Trưởng d 56 . Gọi là Tham mưu Trưởng cho oai
thực ra đó là một chức vụ Trợ lý Tham MưuTiểu đoàn . Tuy nhiên đã
làm Tham mưu , nhưng nghiệp vụ về công tác tham mưu thì đồng chí Thoan chưa hề được học một
ngày nào . Một người vốn đã thụ động , lại được phân cho một việc
mà mình không có nghiệp vụ thì quả là khó khăn . Khi gặp đồng chí
Thoan ở kho ,tôi hỏi :
-
Anh là Tham mưu
Trưởng thì hàng ngày anh làm việc gì ?
Đồng chí Thoan gãi đầu ,gãi
tai không biết trả lời thế nào,thực ra khi được điều về kho với chức
danh là Tham mưu Trưởng có lẽ đồng chí cũng không biết phải làm như
thế nào . !
Một câu hỏi tưởng là đơn
giản , hóa ra lại là một câu hỏi khó .Mãi một lúc sau đồng chí mới
nói :
-
Thì lâu lâu nghĩ ra việc gì tôi sẽ mách cho Thủ trưởng !
Hóa ra đồng chí Thoan nghĩ
rằng làm Tham mưu Trưởng tức là làm Thầy dùi cho Thủ Trưởng !
Lúc này ,tôi mới nói với
đồng chí Thoan :
-
Anh làm công tác Tham mưu có nghĩa là anh sẽ là
người tổng hợp và soạn thảo ra các kế hoạch công tác ngắn hạn và
dài hạn của đơn vị . Muốn vậy ,anh phải nắm được các chủ trương ,
chỉ thị của cấp trên , hướng dẫn của ngành và tình hình của đơn vị
; trên cơ sở đó , anh phải lập ra các kế hoạch để đơn vị tổ chức
thực hiện . Tóm lại , anh phải là người đề xuất những việc chúng ta
phải làm và phải làm bằng cách nào !
-
Nói như vậy ,
nhưng tôi chưa có hy vọng đồng chói Thoan sẽ làm được việc gì , trong
khi đồng chí chưa thích nghi được với môi trường công tác mới .
-
Trước khi nhận
quyết định xuống làm Tiểu đoàn Trưởng d 56, tôi là người lập kế
hoạch và trực tiếp chỉ đạo kế hoạch di chuyển vũ khí , đạn dược
từ T2 về Gốc Me . vì vậy tình hình công việc chuyên
-
-
môn ở K56 tôi nắm khá chắc . Tuy nhiên khi đã trở
thành người chỉ huy của tiểu đoàn , tôi đã trở thành người trong
cuộc ; tôi phải nắm chắc tình hình của đơn vị và chỉ có như thế tôi
mới có thể trả lời cho tôi câu hỏi phải làm gì lúc này .
Tôi quyết đi vào kho để kiểm tra tình hình của đơn vị . Trong
các nhà kho bộ đội vẫn đang tiếp tục bốc xếp đạn dược .Công việc
thật là nặng nhọc ,nền nhà kho thấp hơn mặt đường khoảng 2m , từ
nền đường xuống nền nhà kho có hơn 10 bậc tam cấp.Những hòm đạn pháo 130 ly nặng
gần 80 Kg bộ đội phải vác trên vai bước xuống hơn 10 bậc tam cấp để
đưa được vào kho . Hòm đạn một người vác thì quá nặng , hai người
vác thì quá khó đi ;không có một phương tiện nào để giúp đỡ cho con
người trong những công việc này .Trời thì mưa lâm thâm , nếu đường trơn
rất dễ bị trượt ngã ;mà đã bị trượt ngã rất dễ bị chấn thương .
Làm việc lâu năm ở kho kiểu này về già rất dễ bị đau cột sống .
Kiểm tra công tác bốc xếp đạn dược , tôi
mới thấy bộ đội làm việc quá vất vả .Có đến 60% bộ đội trong kho
là nữ , công việc nặng nhọc thế này liệu có thích hợp với sức khỏe
của nữ quân nhân tuổi mới mười tám , đôi mươi hay không !; nhưng hiện
tại chưa có cách gì giải quyết .
Việc bốc xếp đạn dược từ trên xe xuống đường , rồi từ đường xuống
nhà kho và sắp xếp các hòm đạn trong kho chỉ dựa vào sức người là
chính và tình trạng này sẽ còn kéo dài rất nhiều năm vì việc cơ
giới hóa công việc sắp xếp đạn dược trong kho không phải là việc dễ
dàng .
Sau khi kiểm tra công tác sắp xếp đạn
dược tại các kho , tôi gọi đồng chí Lương , Tiểu đoàn Phó phụ trách
hậu cần và đồng vhí Lược quản lý
đơn vị đi kiểm tra nơi qăn chốn ở của bộ đội .
Về chỗ ở , do đơn vị mới di chuyển từ T2 về chưa xây dựng đượ
nhà ở nên cái Hội trường của Trường Quân chính trước đây đạt ở trung
tâm kho được biến thành nhà ở của bộ đội . Đó là một ngôi nhà cột
bê tông , vì kèo thép ,lợp giấy dầu có tới 10 gian , mỗi gian đều hơn
3m ; như vậy ngôi nhà này phải dài khoảng hơn 30m . Khẩu độ vì kèo 8m
, diện tích của nó khoảng 240 m2. Ngôi nhà không có tường vách gì ,
được chia đôi bởi một bức vách bằng giấy dầu , mỗi bên 5 gian . Nam
quân nhân ở một bên , nữ quân nhân ở một bên . Buổi tối trong kho không
có điện đóm gì ;các tiểu đội chỉ có đèn dầu , một vài cái đèn
bão .
Cơ quan Tiểu đoàn thì ở xen kẽ với các
gia đình công nhân của công ty hóa chất Mỏ ; khu gia đình của Công ty
hóa chất mỏ có 4 dãy nhà cấp 4 và một nhà ăn tập thể ; nhiều gia
đình công nhân đã chuyển chỗ ở đi nơi khác . Sau khi kho Gốc Me được
bàn giao cho Quân đoàn , trong mỗi dãy nhà khoảng 5 đến 6 gian chỉ còn
lác đác một đến 2 gia đình ở tạm trong khi chờ đợi công ty bố trí
về khu vực mới . Sau khi đi kiểm tra , tôi về hội ý Ban chỉ huy Tiểu
đoàn để quy hoạch lại nơi ăn ở của bộ đội . Tôi nêu ý kiến là : Không
thể để bộ đội sinh hoạt trong khu vực nhà kho chứa đạn dược , như
vậy là vi phạm quy tắc an toàn . Ngoài ra
để cả nam lấn nữ ở trong một dãy nhà .,không có
tường bao , vách ngăn hoàn
toàn không phù hợp với điều kiện sinh hoạt của chị em .tình trạng
này không thể kéo dài được .
Chúng tôi quyết định phải đưa bộ
đội ở ra ngoaì khu vực kho , nhưng
như vậy thì ở đâu ? điều đó không có gì khó ; chúng tôi thuyết phục
các gia đình công nhân của công ty hóa chất dồn lại một dãy nhà ,
giải phóng được 2 dãy nhà cấp 4 và điều tất cả các nữ quân nhân ra
hai dãy nhà này .Như vậy, cả khu tập thể của công ty hoá chất mỏ có 4 dãy nhà thì chúng
tôi đã sử dụng được 3 dãy ; một
dãy giành cho BCH Tiểu đoàn . một
dãy của các gia đình thuộc công ty hóa chất mỏ và hai dãy giành cho các chiến sỹ nữ
.của tiểu đoàn . Phân đội Nam và bộ phận Vệ binh được bố trí ở ra
khỏi hàng rào kho và dựng nhà ven bờ suối . Trong tình hình các đơn vị của Quân
đoàn đều đóng ở nhà dân hoặc đang ở dã ngoại , có được một chỗ ở
như vậy cũng có thể coi là tạm ổn . Nhưng do đơn vị có nhiều nữ ,
tôi quyết định phải làm nhà vệ sinh và nhà tắm cho chị em .Trước đây khu vực đi vệ sinh là cái
bãi sắn rộng mênh mông trong khu vực nhà kho của công ty hóa chất mỏ ;
sắn cao lút đầu người , cứ chui vào trong đó là mất hút . Còn muốn
tăm thì chiều chiều sau một ngày làm việc cực nhọc trong nhà kho ,
chị em phải ra suối tắm . Suối
bắt nguồn từ mỏ nước trên con đường từ Gốc Me vào Yên Vượng ;
mỏ nước nằm sát hàng rào kho , nơi đó có một cái Miếu gọi là Miếu
Ba cô , thờ 3 cô gái ra tắm suối ở đây và bị chết đuối . Mặc dù đã
có người chết do tắm ở mỏ
nước và người ta đã lập miếu thờ ,nhưng chỗ tắm yêu thích
nhất của chị em sau giờ làm việc vẫn là mỏ nước . Cách mỏ nước
khoảng năm trăm mét là đài quan sát của kho ; trên đài quan sát chiều
chiều , lính vệ binh đáng ra phải quét ống nhòn vùng kho để cảnh
giới an toàn thì lại chĩa ống nhòm về phía mỏ nước . Vì vậy, việc
làm cho chị em mấy cái nhà tắm ở mỏ nước không những chỉ tránh
được những cơn gió lạnh của mùa đông ngoài khe suối mà còn có tác
dụng làm mất mục tiêu của các ống nhòm từ trên đài quan sát .
Mỏ
nước là một hang động trong núi đá vôi nằm sâu trong lòng đất và
tích đầy nước . Có lẽ nước của cả vùng núi đá Cai Kinh theo các khe
nước ngầm đổ về đây .Mùa mưa , nước từ trong hang đổ ầm ầm ra suối
qua một cửa hang làm cho dòng suói ngập tràn như một dòng sông nhỏ .
Nước từ trong mỏ nước tuôn ra trong vắt có lẽ là do Nó được lọc qua
nhiều tầng đá vôi . Được ra mỏ nước tắm ,thật là thú vị vì nước
rất trong , rất sạch và rất mát. Về mùa khô tức là mùa đông ,dòng
nước đổ từ mỏ nước ra suối không còn dồi dào nữa ,dòng suối lại
khô cạn ; nhưng mỏ nước vẫn là nơi cung cấp nước duy nhất cho nhân dân
khu vực Gốc Me . Ngày nay , Do nạn chặt phá rừng nên nước trong mỏ đổ
ra dòng suối không còn được như trước nữa . Cách mỏ nước chừng vài
cây số , địa phương đã cho xây một con đập để giữ nước cho dòng suối cả
mùa đông .
Những
giải pháp tổ chức về nơi ăn ở của bộ đội như thế được coi là tạm
ổn.. Tuy nhiên cuộc sống của bộ đội vào giai đoạn đó vẫn vô cùng
khó khăn . Mặc dù công tác trong kho vô cùng nặng nhọc , nhưng bữa ăn
thì quá đạm bạc , món ăn chính của bộ đội lúc này là
mắm tôm . Đồng chí Lược quản lý bếp ăn tiểu đoàn nguyên là
sinh viên năm thứ 2 Trường Đại học Nông Nghiệp được động viên vào quân đội , đưa tôi đi thăm kho dự trữ
thực phẩm của Tiểu đoàn ; ngoài một số thịt hộp ít ỏi thỉnh
thoảng trích ra để tiếp đón các đoàn kiểm tra hoặc cấp trên , còn
là các thùng mắm đủ loại . ; mhưng nhiều nhất vẫn là mắm tôm . ,
mắm tôm đã được sấy khô thành bột , một thứ bột màu nâu đen có mùi
mắm và vị mặn chát có thể bảo quản rất lâu .
Hàng
ngày đồng chí Lược kiêm luôn việc tiếp
phẩm , đạp xe ra Mẹt mua một
chục cái bắp cải cho nhà bếp luộc là cơ bản chuẩn bị xong bữa ăn
cho bộ đội . Thức ăn bày ra đĩa 3
ngăn cho một mâm chỉ có một đống bắp cải luộc và một muôi bột nắm
tôm thay cho nước chấm . Do việc ăn uống qua kham khổ ,tư tưởng bộ đội
nảy sinh tiêu cực , nhiều người giả ốm , trốn việc ; Chiến sỹ không tin vào khả năng của chỉ
huy và tổ chức đời sống của
cán bộ . Tiêu chuẩn gạo của bộ
đội mỗinười một ngày lúc đó là 7 lạng rưỡi , nhưng vì thiếu thức
ăn nên dẫu có đói bộ đội vẫn để cơm thừa ê hề . Để tận dụng lượng
cơm thừa , các bộ phận chăn nuôi gà ,chó để cải thiện .
Đến bữa ăn ,đến nhà bếp mang cơm về ,
bữa ăn được bày trên sân nhưng không
hề có bàn ghế ; cứ 7 , 8 người
quây quần vào một mâm , xung quanh là gà chó chạy lăng xăng ăn chực ; trong khi cái nhà ăn do công ty hóa chất mỏ để lại
thì bỏ không . Từ một điều kiện khó
khăn cộng với khả năng tổ chức yếu kém của chỉ huy đã tạo ra một
nếp sinh hoạt không thể nào chấp nhận được . Để khắc phục tình
trạng này và đưa đơn vị vào nền nếp , ngay tối hôm mới về tôi cho
họp đơn vị và quy định : Các bộ phận trong kho không được tự ý nuôi
gà , nuôi chó ; đến bữa ăn cả đơn vị , kể cả ban chỉ huy tiểu đoàn đều phải xuống
nhà bếp ăn tập trung ..
Tôi gia hạn trong một tuần ,các bộ phận
có gà ,chó phải thanh toán hết .
Ngoài
kho thực phẩm khô mà chủ yếu là các loại mắm . Đơn vị còn có một
đàn lơn sống 26 con . vì vậy , đơn vị cũng có tổ chức chăn nuôi ;đó
là nuôi lợn thực phẩm , tức là lợn cấp theo tiêu chuẩn thự phẩm của
đơn vị định lượng mỗi người 33 gram một ngày .
Đồng chí
Lược đưa tôi vào kiểm tra chỗ nuôi lơn thực phẩm . Lợn thực phẩm của
đơn vị được nhốt trong một bể nước cứu hỏa trong khu vực kho. Bể
nước có chiều dài khoảng 8 m,chiều ngang 4 m xây nửa chìm nửa nổi
;phần chìm của bể sâu khoảng một mét , phần nổi trên mặt đất cao
khoảng 40 phân ; bên dưới bể nước có 26 con lợn ; con lớn nhất chưa
đến 30 Kg và con nhỏ nhất chỉ khoảng 15 – 20 Kg .. Dạo ấy mùa đông ,
mưa phùn lất phất ,trời rét , đàn lơn thực phẩm của đơn vị bị nhốt
dưới bể nước thiếu ăn , gầy còm đang đứng túm tụm vào nhau run lập
cập .Dưới đáy bể nước cứu hỏa là
nước phân,thức ăn thừa,rơm rạ đã bị đàn lợn dẫm đạp tạo thành một
lớp rác bẩn trộn với phân bốc lên một mùi hôi thối rất khó chịu . Tôi nói với đồng chí
Lược : Nếu nhốt đàn lơn trong bể cứu hỏa như thế này ,đàn lơn không
thể nào sống nổi chứ đừng nói là tăng trọng ; theo đồng chí thì
phải giải quyết như thế nào ?
Đồng chí Lược trả lời :
Em cũng chưa biết cách giải quyết như
thế nào !
Đơn vị hiện
nay chưa có khả năng xây được chuồng lơn hợp quy cách !Lợn thực phẩm
nhận về chỉ có cách nhốt vào đây . .
Tôi hỏi vậy chứ biết chắc rằng : đồng
chí Lược không có khả năng giải quyết việc này .
Tôi lại quay về hội ý ban chỉ huy tiểu
đoàn .. Vào lúc này chỉ có thể một cách là phải thảv đàn lơn ra
khỏi bể nước cứu hỏa để nuôi theo kiểu lơn thả rông ở miền núi . Có
thể sẽ có con chạy vào núi , nhưng số còn lại thì vẫn còn sống ;
còn nếu cứ nhốt vào bể nước tất
cả sẽ lần lượt chết .
Cả đồng chí
Lương và đồng chí Mò ,đều không đưa ra được một ý kiến gì .
Các đồng chí sợ rằng thả ra , lợn
chạy hết vào núi thì không có cách gì bắt lại được . Sau một hồi
suy nghĩ tôi quyết định sẽ thả đàn lơn ra khỏi bể nước cứu hỏa . .
Đó là một quyết có thể gọi là phiêu lưu ! bởi quay quanh vùng kho là
những dãy núi đá .Vì là vùng đất trong kho , dân không vào khai thác
nên cây cối rất rậm rạp ; nếu đàn
lơn chạy vào các khe núi um tùm thì khó mà bắt lại được . Tuy nhiên không còn cách nào khác , nếu
cứ nhốt như thế ,mùa đông đến chắc chắn đàn lợn sẽ chết.Tôi lệnh cho bộ phận hậu cần của tiểu
đoàn chuyển tất cả 26 con ra khỏi bể nước cứu hỏa .đang ngập đầy
nước bẩn ;,rơm rạ mục lẫn với phân .
Sau khi đàn
lơn được thả ra ngoài ,chúng tôi quan sát xem chúng sẽ hành động như
thế nào ? Không có một con nào bỏ
chạy , chúng đứng túm tụm vào nhau
dưới gốc cây
. Hình như chúng đang còn ngơ ngác khi được thả tự do một cách bất
ngờ .
Trời thì mưa lâm thâm ,nhiều con bị nhốt
lâu ngày dưới bể nước thân hình gầy còm ốm yếu đi đứng xiêu vẹo ;
nhiều con lăn ra đất . Việc mà trước đây không bao giờ chúng làm được
khi bị nhốt dưới bể nước ;ngập nước và phân . .
Đàn lợn chỉ quanh quẩn dưới gốc mấy
cây nhãn trong khu vực kho ; đến trưa nuôi quân đưa máng lơn và thức ăn
thừa của nhà bếp đến , đàn lợn lại túm tụm vào , tranh nhau ăn ..
Như vậy là tôi không phải lo đàn lợn bỏ chạy vào vào núi nữa .
Những lần sau cho lợn ăn , tôi nói với nuôi quân vừa cho lợn ăn vừa
đánh kẻng .
Sau này cứ nghe tiếng kẻng là tất cả
đàn lợn dù đang đi kiếm ăn ở đâu đều phi băng băng về địa điểm tập
trung .
Chúng tôi
không phải lo làm chuồng lợn và cũng không có một con lợn nào bỏ
chạy vào núi thành lợn rừng . . Đàn lợn thả rông như được trả lại
trạng thái phù hợp với nếp sống tự nhiên của chúng nên nhanh chóng
được hồi phục .Chúng có thể kiếm ăn trong khu vực kho những thứ gì
mà chúng có thể ăn được .
Sau vài ngày tiếp xúc với các
cán bộ của kho và tìm hiểu công tác tổ chức ở kho Tôi nghĩ rằng
rất nhiều công việc đang chờ đợi mình trong những ngày sắp tới .Tiẻu
đoàn đang rất cần một ngời chỉ huy biết quán xuyến công việc để đưa
tiểu đoàn vào nền nếp và cải thiện được tình hình hiện tại .
Người xưa nay có câu : “ Một người hay
lo bằng một kho người làm làm “.
Khi đã trở thành người chỉ huy một đơn
vị cơ sở , ta phải trở thành “ một người hay lo “ để giải quyết những
vấn đề đang tồn tại phát sinh trong quá trình vận động không ngừng
của một đơn vị ./.
October 26, 2015
Đỗ Đăng Đích
Hồi ký _
LỜI ĐẦU .
Cho
đến bây giờ , đã vào tuổi “ Nhân sinh thất thập cổ lai hy “, Tôi vẫn
coi mình là một sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam _ một người lính
Cụ Hồ ; bởi thế, mhững năm tháng ngoài quân ngũ đã trôi qua trong quá
khứ vẫn xem là những bước đi và làm việc của một Sỹ quan QĐND V.N cho dù trên cương vị công tác trong
ngành Quản lý Hoạt động Khoa học của một địa phương mà khi ấy là
một tứ cường của nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự Lãnh đạo của Đảng Lao động V.N mà tôi
là một Đảng viên được gia nhập Đảng trong Trường Đại học Kỹ thuật
quân Sự bấy giờ ___ Khóa thứ nhất của Học viện cùng tên hôm nay .
Điều này không có gì gọi là ngộ nhận
, bởi tôi trở thành một thủy thủ cơ điện hạm tàu tuần la Hải Quân
V.N từ một người Thợ Tiện và trưởng thành dưới mái trường đại học
kỹ thuật quân sự V. N ngay từ những ngày mới thành lập trường , do
Bộ tư lệnh Hải quân đưa về trường để sánh vai cùng các Quân ,Binh
chủng khác và tuổi quân của tôi đã
vượt qua thời hạn cấp huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất , Nó
còn dài hơn thời gian tôi thực sự làm việc trên địa bàn Tỉnh Hà-
Nam- Ninh với văn bằng Kỹ sư Quân sự
Trạm Nguồn Điện với tư cách một chuyên viên-Kỹ sư Trưởng làm
nhiệm vụ của một Phó Trưởng ban, mặc dù Tỉnh ủy quản lý mà không
hề có quyết định chức vụ mà chỉ là đồng lương do Ngân sách Nhà
nước trả mà gánh trách nhiệm mà thôi , cũng không một hào trả cho
tiền trách nhiệm. Bởi trong giai đoạn đất nước thời ấy , niềm hạnh
phúc và vinh quang là được làm việc và phục vụ Tổ quốc , phục vụ
Nhân dân của một Đảng viên Đảng Lao động V.N , nhất lại là một Sỹ
quan QĐND V.N chuyển ngành , đã vững vàng sau khi đi qua và hoàn thành
nhiệm vụ , trọn vẹn công cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc , thống
nhất đất nước .
NHỮNG NGÀY Ở CỤC VẬT TƯ TCKT
Sau khi tốt nghiệp, tôi
về Hà nội __ Tổng cục kỹ thuật và được điều động về Cục Vật tư –
làm trợ lý Xây dựng nhà máy , Cục Vật tư được tách ra riêng từ Cục
Vật tư – Nhiên liệu do Thượng Tá Trần Ngọc Giao làm Cục Trưởng và
Trung Tá Ngô Kỷ là Phó cục Trưởng . Tôi được điều động làm Trợ lý
Xây dựng Nhà máy thuộc Phòng Tổ chức – Kế hoạch Cục đóng ngoài Thành___ _ Bưởi . Bấy
giờ Cơ
quan Cục nằm sát ven bờ Hồ
Tây và đang xây nhà làm việc trên mảnh đất mà tôi thấy phải di rời
nhiều ngôi mộ trên mảnh đất bé nhỏ nằm phía trong làng Đông Hồ , đi
vào Cổng Đông Thành qua một xóm và ngay sát bên một chùa Phật giáo
có chừng vài ba Sư Tiểu trụ trì . Tôi là người cuối cùng mang ba lô
rời Trạm 66 bấy giờ về Cục và là quân số thuộc biên chế sỹ quan
Khoa học kỹ thuật Hà Nội; và tôi ở Cục cho tới khi chuyển ngành về
địa phương ra đi vì Hà nội không thể đáp ứng điều kiện mẹ già, vợ
dại ,con thơ của gia đình tôi, chỉ còn duy nhất mẹ già có tôi là nơi
nương tựa trong những năm tháng hưu trí của bà .
Tôi về Cục làm trợ lý xây
dựng nhà máy bấy giờ bộ phận Kỹ thuật mới chỉ có tôi Thiếu úy và
Đồng chí Hồ Ngọc An – Trung úy trợ lý –Kỹ sư Xây dựng ; chúng tôi
bắt đầu xây dựng và chuẩn bị phương tiện , dụng cụ cho Thiết kế chủ
yếu là bàn vẽ . Bàn vẽ chính quy bấy giờ không dễ có như bây giờ ,
cục phải xin bên Phòng Thiết kế cục Quản lý Xe , nhưng nặng nề không
thích hợp , không tiện lợi lắm , nên Phòng giao cho tôi thiết kế Bàn
vẽ thích hợp hơn bằng gỗ do bộ phận mộc của cơ quan đóng ; thế cũng là “vạn sự khởi đầu nan “ Có lẽ Phòng muốn thử khả năng kỹ sư mới tốt nghiệp
của tôi . Tiếp theo vài tháng sau và lần lượt Bộ phận kỹ thuật mới
tập trung đủ quân số đáp ứng nhu cầu thiết kế một xí nghiệp Quốc
phòng nhỏ , đa năng có cống suất tiêu thụ năng lượng Điện 500 KVA
.chúng tôi cũng chỉ cần đến 2 bàn vẽ mới cùng 1 bàn vẽ đi xin về ;
Hai bàn vẽ do cục đóng cho chúng tôi còn gắn bó với các cô Thợ Can
và
phòng chúng tôi cho tới khi
tôi chuyển ngành . Bấy giờ , việc thiết kế nhà máy được sự hỗ trợ
của Các Giảng viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đem sinh viên năm
cuối cùng sang giúp trong khi đóng cửa tạm thời trường Đại học Bách
khoa tại Hà nội để phục vụ quân đội , bởi thế Các giảng viên là kỹ
Sư Huỳnh Đốc và Phó Tiến sỹ Dương Vân Đình sang cùng tôi thiết kế Hệ
thống điện và nhà xưởng sửa chữa . Khi trở lại học tập của nhà
trường thì bộ phận chúng tôi đã được thêm Đồng chí Lê Đình Tấn Kỹ
sư cơ khí chế tạo , Đồng chí Vũ Huỳnh Lương Kỹ sư Ô-tô và Đào Kim Chi
Kỹ sư ô- tô đều tốt nghiệp từ Trường Đại họcBách khoa Hà nội .
Sau này, khi đã hoàn thành việc thiết kế và Thi công xây dựng
xong nhà máy T 606 – Kiêu Kỵ – PhúThụy đều do bộ phận kỹ thuật thiết
kế và chỉ huy thi công toàn phần không có lực lượng thi công ngoài
Cục phối hợp hoặc hợp đồng ; bộ phận chúng tôi đã có 5 kỹ sư và 2
Thợ Can đều chuyển thành bộ phận kỹ thuật quản lý kho và rồi được
bổ sung thêm 2 kỹ sư được động viên vào quân đội năm 1971 và đi thực
tế đơn vị 2 năm quay về là Thiếu úy Đỗ Duy Long Kỹ sư
máy bốc dỡ Đại học Hàng hải , Hoàng Kim Ngọc Kỹ sư cơ khí chế tạo Đại học Bách Khoa
Hà Nội và Nữ Kỹ sư Linh kiện Điện Tử Nguyễn Thúy Nga ; bảo đảm công
tác thiết kế , kỹ thuật quản
lý và theo dõi kỹ thuật bảo quản ở các kho thuộc Cục Vật tư TCKT .
Do công tác kho tàng phức hợp và phức tạp nên Phòng Quản lý
Kho được thành lập và bộ phận chúng tôi chuyển thành Phòng Quản lý
Kho do Thiếu tá Nguyễn Ngọc Cẩm – Phó phòng Tổ chức Kế hoạch sang
làm Trưởng phòng ; đồng thời điều động thêm cán bộ nghiệp vụ khác
sang là làm trợ lý theo dõi về sổ
sách và quản lý , cấp phát tại các kho thuộc Cục . Sau này theo chủ trương của Tổng cục ,
đưa mấy kho của các cục khác về cục Vật Tư quản lý như : J. 112– Cục
Quản lý xe và V. 30 ; công tác quản lý kỹ thuật của Cục trở nên có
nhiều vấn đề cần thiết và phải quan tâm từ quản lý cho đến bảo
quản , bởi hầu hết đều là máy móc ,trang bị và vật tư phụ tùng
,linh kiện, bộ phận,tổng thành đòi hỏi phải nắm vững kỹ thuật mới
cóthể cấp phát tới các đơn vị công nghiệp quốc phòng của Tổng cục
cũng như quản lý tại kho tàng và như vậy công tác kho tàng trở thành
vấn đề kỹ thuật phức tạp trong giai đoạn cung ứng vật tư qua kho còn
cung ứng thẳng chỉ những thiết bị máy móc chuyên dùng của các Quân
,Binh chủng mà thôi .
Hơn nữa điều kiện xuất nhập kho nhiều trang bị vật tư nặng
nhọc cần và tiêu tốn nhiều sức lực của bộ đội , năng suất lại thấp kể cả công tác
bảo quản những trang bị bộ phận nặng cũng nặng nhọc ; cho nên công tác
cải tiến và chế tạo trang bị cơ khí hóa thay thế bớt hoặc giảm nhẹ
sức người cũng trở thành nhiệm vụ của phòng quản lý kho mà đảm trách là ‘Kỹ thuật
và các Kỹ sư .
Công tác kho tàng của Cục vật tư TCKT khá phức tạp bởi nhiều
mặt hàng mà chủ yếu là từ nước ngoài mua sắm về cũng như viện trợ
qua đường dân sự cho quốc phòng và trang bị nói chung , chỉ trừ vũ
khí , đạn dược và thiết bị chuyên tác chiến là thuộc cục Vật Tư Bộ
Tổng Tham mưu (Có một
thời gian ngắn Phòng quản lý
thuộc Bộ Tổng Tham Mưu cũng chuyển về Cục Vật Tư TCKT sau rồi lại về
bộ tham mưu ). Trong khi đó hàng ngũ
cán bộ , bộ đội quản lý kho và cấp phát không có đủ khả năng trình
độ kỹ thuật nên Vật tư có trong kho mà chẳng hiểu là cái gì , để
mà làm gì , công tác bảo quản , nhà kho không đảm bảo và nhiều máy,
tổng thành để ngoài trời mưa nắng .
Có những tổng thành , trang
bị màcán bộ cung ứng chẳng biết cấp phát cho ai , cũng chẳng t6hấy
trong kế hoạc cung ững của một đơn vị nào Ví như : cung ứng cho hay : Có nhiều Cáp cao thế
không biết cấp phát đi đâu, anh xem lấy bao nhiêu thì lấy . Tôi mừng
quá và xem danh mục thì đó là Cáp cao thế 6 KV dùng chôn xuống đất
,chống tác động môi trường và ngoại lực ; tôi bèn xin cho đủ mọi
đường cáp cung cấp cho các tủ phân phối và lính về cho thi công .
Cũng như , trong thời gian chỉ
huy thi công , tôi trở về Cục , sang phòng cung ứng và gặp đồng chí
Tiến Kỹ sư VTĐ Bách khoa Hà Nội phụ trách cấp phát trang bị điện
nói là có 5 Bảng điện , anh có
lấy không ?
Tôi bụng bảo dạ : Bảng điện chắc to lắm chỉ bằng cái
bảng đen chứ mấy , mình cũng đang cần ; thế là tôi lấy và nói :
-Anh cấp cả
cho nhà máy !
Thế là trong tay tôi có lệnh xuất
kho đưa cho giám đốc nhà máy để lĩnh . Rồi một
hôm tôi đang kiểm tra việc lắp đặt đường
phân phối điện cho các xưởng thì được một cán bộ cung ứng của nhà
máy gặp tôi và bảo :
-
Bảng
điện xin lĩnh to quá, xe 3 tấn và cần cẩu 3 tấn không bốc xếp và
chở được anh ạ ! .
Tôi ngạc nhiên
và bảo : - để tôi sang xem .
Vì kho lĩnh
hàng ngay bên đường cách Ga Phú Thụy chừng 1 Km cách Kiêu Kỵ chừng 3
Km , tôi đạp xe sang xem . Té ra là 5
trạm phân phối điện trung chuyển Cao áp 11 KV đầy đủ nằm trong hòm
trên sân kho đã lâu lắm rối không ai biết là gì , chỉ xác định là
bảng điện mà thôi . Tôi mở hòm chui vào trong xem thì thấy cả xào cao
áp , có cả Ap-tô-mát điều khiển bằng mô tơ điện , nghĩa là nó đủ cho một buồng trung
chuyển cao áp, thiết bị không đến nỗi tồi . .
Tôi bèn bảo : Thôi không lĩnh nữa , vì
đây là thiết bị trung chuyển cao áp ; để tôi về báo cáo với Cục .
Hôm sau , khi bố trí công việc xong , tôi
đạp xe về Cục và báo cáo với Cục Trưởng trường hợp quản lý trang
bị này và đề nghị cho chuyển về kho khác , vì kho T-612 không có
chức năng dự trữ loại trang bị này
. Ít lâu sau , tôi được biết , nó đã ược chuyển lên kho T-602 Phổ
Yên–Bắc Thái . *****
* Trong
Công nghiệp Quốc phòng , khái niệm Vật tư khá rộng , để có thể mua
sắm , cung ứng , nhất là cung ứng qua kho thì vật tư được tiếp nhận
về nhập kho để quản lý rồi mới
cấp phát theo Kế hoach cung ững của Cục Vật Tư , vì vậy đòi hỏi các
cán bộ cần có nghiệp vụ chưa đủ và không khó lắm , nhưng cần hiểu
biết kỹ thuật chuyên ngành và đa ngành là vấn đề cơ bản . vì vậy
chúng tôi phải liên tục hục tập và tham khảo sách , tài liệu có
trong Thư viện Khoa học –Kỹ thuật Trung ương và mua những sách Kỹ
thuật cần thiết cho một tủ sách riêng mà bấy giờ sách tiếng Nga là
chính , trong Thư viện cũng vậy .
Công việc của chúng tôi xem
ra không hề dễ dàng , những luận chững kinh tế , tổ chức kho tàng
cũng như những thiết kế trang bị,
máy để giảm bớt sức lao động và khắc phục sức nặng hàng hóa
thường xuyên nằm trong tư duy và công việc hằng ngày;nhưng việc thực
hiện còn phụ thuộc vào từng Kho , từng Chủ nhiệm kho mặc dù bản vẽ
đã được in Ô -dơ-lít ( bấy giờ in ô-dơ-lít là chủ yếu với mọi bản
vẽ từ A0 đến A4 ) .
Chính vì vấn đề kỹ thuật,cho nên có
khi Cục lên đơn hàng xin viện trợ qua con đường dân sự , hoặc mua sắm
theo kim ngạch được phân bổ , nếu không hiểu Kỹ thuật thì trang-- thiết bị , máy
nhập về sẽ bị cắt xén hoặc thiếu đồng bộ ,vì thế chúng tôi được
trưng tập cùng các kỹ sư của Phòng mua sắm lặ chọn và cùng nhau lên
đơn hàng gửi đi , công việc này khá phức tạp và đòi hỏi phải bảo
đảm tên gọi,ký,mã hiệu không chỉ bằng tiếng việt mà còn cần song
ngữ Việt Nga hoặc Việt –Pháp,cho nên hoàn thành nhiệm vụ của một trợ
lý chúng tôi cũng mất nhiều công sức học tập và học hỏi nghiệp vụ
ngoại thương thời bấy giờ . Nói
chung công tác của Cục Vật tư TCKT có bản chất Cung ứng vật tư Công
nghiệp quốc phòng và thời bấy giờ là cung ứng qua kho,hầu hết các
kho chịu trách nhiệm tiếp nhận về kho,xuất kho ,bảo quản theo lệnh
xuất nhập từ Cục qua các phòng chuyên môn,trong khi đó các cán bộ Kỹ
thuật,kỹ sư không đủ cả về lượng cũng như về chất(không tính đến
chất lượng chính trị),cho nên chúng tôi thường phải hỗ trợ khi cần
và như thế tôi cũng còn phải làm nhiệm vụ giám khảo thi nângbậc thợ
của bộ đội , công nhân quốc phòng của từng Kho , **** Cục Vật tư TCKT trong chiến tranh chống
Mỹ không phải đơn vị chiến đấu , cũng không phải xí nghiệp công
nghiệp quốc phòng mà đặc thù của
nó là Bảo đảm Vật tư Công nghiệp quốc phòng , trong khi khái niệm “
Vật tư “ không hề đơn giản mà bảo đảm Vật tư không hề phi kỹ thuật
chuyên ngành cũng như kỹ thuật có tính chất chung ; cho nên công tác
kỹ thuật của một cơ quan đầu não cung ứng vật tư cần có một cơ cấu và tổ chức như thế nào thì bấy
giờ chưa có một phương án , một mô hình nào , cho nên chúng tôi thường
chỉ biết làm việc mỗi khi có tình thế cụ thể mà thôi . Bên cạnh đó
việc xuất nhập kho những mặt hàng từ nhẹ đến nặng cần đến trang bị
cơ khí bốc xếp ta không có thì thiết kế chế tạo ; đồng thời việc
bảo quản hàng hóa nhẹ như giấp , nặng như thép ; đơn giản như chi
tiết máy , phức tạp như máy , tổng thành … Chúng tôi công tác trong
bối cảnh trao đảo theo từng tình thế . Vào những thời kỳ kiểm kê kho
tàng , sổ sách trên Cục có khi theo báo cáo dưới lên từ từng chủ
nhiệm kh ,nhưng tên và mã hàng thì có khi không chính xác phát sinh
chúng tôi phải đi tới các kho để thẩm định mới có thể quản lý và
cấp phát chính xác theo nhu cầu xin cung ứng .
Trong một đợi kiểm kê, sau khi có báo
cáo từ kho vè cục , chúng tôi đi thẩm định lại thiết bị : Một thiết
bị
lạnh được báo cáo là máy làm đá chung chung
, nhưng đến khi tới kho T-602 kiểm tra thì ra lại là Tổng thành máy
lạnh lắp được trên ô-tô vận tải JIL của Nga ; chúng tôi yêu cầu lấy
một tổng thành và dùng tạm gỗ hòm đóng thành thùng kín cho chạy ,
quả nhiên cho chạy có kết quả lạmk
hết độ tới mức ra đá . Sự ấu trĩ về kỹ thuật trong công tác
quản lý tại kho làm cho công tác cung ứng trở thành bế tắc mà cần
đế kỹ thuật trong công tác này .
Lại một lần : Đồng chí Cục Trưởng Trần Ngọc Giao đi kiểm tra kho vàvề ,
vào phòng đưa cho tôi một tập tài liệu bằng tiếng Nga và yêu cầu dich
để chuyển tới kho . Tôi nhận nhiệm vụ và dùng Từ điển để dịch ,
thế ra là một tài liệu thuyết minh của cái gọi là :” Mốc Hạ Cánh
Mò “ của bên Không quân .
Nói chung tôi và bộ phận kỹ thuật được xem như một cánh
tay kỹ thuật đa năng của Cơ quan Cục và các Thủ Trưởng Cục .
******
October 26, 2015
Đỗ Thành
Hưng
Truyện
Hồi Ký
“SỸ QUAN BINH NHÌ"
PHÍ LÀM QUEN.
Vào học năm thứ ba,
đại đội 213 chúng tôi về đóng quân ở xã Văn Tiến, huyện Yên Lạc. Tôi đang ở độ
tuổi hai mươi, cái tuổi đã thích yêu và muốn được yêu nhưng còn nhút nhát lắm.
Vả lại cũng sĩ sĩ vì mùa đông có giày đen, áo bốn túi, nhìn ngoài ra dáng sỹ quan
thứ thiệt, lại đang học đại học, đâu dễ gì ai cũng làm quen được! Thời đó, tôi
cũng ý thức được rằng sinh viên đại học Kỹ thuật quân sự bọn tôi đắt giá lắm
bởi "trai thời loạn", mà "gái khôn tìm chồng giữa chốn ba
quân"! Nên cũng có chút kiêu kiêu với các em! Tôi và Ngô Gia Hồi không
phải là bạn thân vì khác lớp nhưng cùng lứa với nhau. Tôi biết Hồi có người yêu
tên Phương, học năm thứ nhất đại học Bưu điện, cách xã Văn Tiến chừng 5-7km,
nhưng tôi chưa có dịp được gặp người yêu của Hồi.
Vào một sáng chủ nhật đầu đông se lạnh, buồn
buồn tôi đạp xe đi lòng vòng tận hưởng cái khí lạnh đầu mùa. Thấy hai cô gái
đèo (chở) nhau trên chiếc xe đạp đi từ hướng trường Bưu điện về phía huyện, tôi
quay xe theo hướng hai cô. Một mình một xe, lại ở tuổi "bẻ gãy sừng trâu”,
chỉ vài phút tôi đã đuổi kịp. Liếc nhìn nhanh và thấy cô ngồi sau xinh xinh, có
một nốt ruồi to bên má rất duyên... Nhưng "sỹ quan" phải đứng đắn!
“đâu dễ làm quen”. Tôi lạnh lùng vượt lên trước, chừng hai, ba trăm mét lại
thấy tiêng tiếc... Tới một ngã ba tôi dừng lại, vẫn ngồi trên xe, tay vịn cây
phi lao ven đường và quay đầu lại nhìn phía sau như dáng chờ ai. Khi hai em gần
tới, tôi kéo tay áo bốn túi xem giờ, như khoe khéo với các em “anh có áo bốn
túi, có cả đồng hồ polzot đây này!”, rồi nghĩ cách bắt chuyện làm quen. Giả bộ
không biết đường tôi hỏi:
-
Đi thẳng có phải đường về huyện không cô ơi!
-
Dạ phải, anh cứ đi theo bọn em!
“Được lời như cởi tấm lòng”, tôi vội đạp
xe theo hai em, có cớ đi cùng mà không sợ các em cười anh "sỹ quan"
này sỗ sàng quá! Không dám nhận là thổ địa, nhưng đường ở huyện này tôi thuộc
như lòng bàn tay, hỏi đường chỉ là kiếm cớ.
- Đây về huyện còn xa không cô?
- Dạ chừng 5-6 cây số thôi anh!
Thấy hai em vui vẻ bắt chuyện, tôi tỏ ra
ga lăng và hào hiệp, rồi chuyển sang xưng hô ngọt lịm:
- Còn xa, em sang tôi đèo cho một quãng!
Các em đồng ý ngay. Thế là em xinh xinh
ngồi phía sau sang xe tôi. “Mục tiêu đã vào điểm ngắm!”. Lần đầu tiên được đèo
người đẹp đi chơi vào ngày chủ nhật giữa tiết trời se lạnh, chú lính binh nhì
thấy phấn chấn lạ thường!
Đạp xe đèo em mà thấy nhẹ tênh, nhẹ hơn
đi một mình mới lạ chứ! Một cảm giác lâng lâng như ngồi trên gió, trên mây!
Rồi sự thân mật lại gần, tôi biết em tên
Hảo, cô bạn tên Lan, học năm thứ nhất trường đại học Bưu điện, tôi liền nói dối
tỉnh bơ:
- Anh cũng có em gái họ tên Phương học
năm thứ nhất trường Bưu điện, người yêu của nó là Ngô Gia Hồi.
Tôi nói rõ như vậy để các em biết Phương
nào nếu khóa của các em có nhiều Phương, vì tôi không biết họ tên đầy đủ của
Phương. Cũng là để tăng sự tin tưởng cho các em ở lời nói dối của mình. Hảo nói
như reo lên:
-
A. Thế ạ! Chị Phương học lớp em. Chị ấy nói người yêu là anh Hồi đang học ở đại
học Kỹ thuật quân sự, đóng quân ở gần đâu đây. Nghe Hảo nói, tôi thấy vui vui.
Vậy là các em đã tin sái cổ tôi là anh họ của Phương rồi!
Tôi không dám nhận
là bạn học của Hồi vì như vậy em sẽ phát hiện đơn vị tôi ở quanh đây, việc hỏi
đường ban nãy là giả vờ trắng trợn! Rồi suy ra tôi nhận bừa chứ không phải anh
họ của Phương nếu tôi cùng học với Hồi. Thế rồi tôi cố ý đạp xe nhanh hơn để em
và tôi tách hẳn với người bạn cùng đi, tạo cơ hội nói chuyện riêng. Không nhớ
hồi đó tôi tán những gì mà có lúc em cười như nắc nẻ. Có vài lần em phải tì nhẹ
vào lưng tôi để ngồi cho vững! Tay lái của tôi sáng nay sao tệ quá, cứ thấy ổ
gà là không tránh được! Đã mấy lần làm em chao đảo, phải ôm nhẹ eo tôi! Chưa
hết những điều muốn tìm hiểu về em thì đã tới huyện rồi. Năm, sáu cây số sao
hôm nay ngắn quá! Hảo nói tôi đi chậm lại chờ người bạn đi cùng.
Qua cửa hàng ăn, hai em rủ tôi vào ăn tạm
cái gì đã. Chết cha rồi! Bảy cái túi "sỹ quan" của tôi (bốn túi áo,
ba túi quần) chỉ có năm hào bạc-tiền phòng hờ vá xe đạp, lấy gì đãi hai em? Dù
là bát phở bốn hào hay bánh rán một hào ba cái. Tôi nhanh trí nói dối để đánh
bài chuồn!
- Ấy chết! Anh có cuộc hẹn làm việc với
huyện đội mất rồi!
Tôi lại kéo tay áo "khoe đồng
hồ":
- Anh chỉ còn mười phút thôi, các em cứ
vào trước, xong việc anh ra ngay!
- Ơ, hôm nay là chủ nhật cơ mà anh? - Lan
nói có vẻ nài nỉ.
-
Thời chiến, bộ đội bọn anh đâu có chủ nhật như các em!
Nói xong tôi chào hai em, rồi "sỹ
quan" lủi mất! Đạp xe loanh quanh ở huyện đội chừng mười lăm phút, lại
thấy tiêng tiếc, bụng bảo dạ "không thể bỏ lỡ thời cơ!", tôi liền
quay lại cửa hàng ăn. Thấy hai em đang ngồi ăn phở, tôi đi lại chào hai em và
ngồi xuống ghế. Tôi bịa ra người cần làm việc với tôi bận, hẹn nửa giờ nữa mới
về.
- Anh ăn phở nhé! - Em Hảo xinh xinh nói
và định đứng lên.
Tôi nghĩ: "Chắc em trả công đã đèo
em 5-6 cây số đây, nhưng ai lại để cho em đãi mình, phải ga-lăng chứ!".
Tôi liền nói:
- Anh ăn sáng rồi, để anh xem có món gì ngon nhất đãi hai
em nhé!
Ấy là nói cho sang, chứ chả lẽ nói thật: Sáng anh đã ăn cục
mì luộc, nhân mọt ở nhà bếp rồi thì ngượng chết!
Nói rồi tôi ra quầy, đứng khuất sau quầy hàng, sờ hết túi
áo rồi túi quần, mãi mới tìm thấy tờ năm hào. Tôi hào phóng mua liền chín cái
bánh rán mất ba hào mang lại mời các em cùng ăn, còn hai hào để phòng vá xe vậy!
Gọi là bánh rán cho oai, chứ chỉ là bột mỳ rán, không có
nhân, mỗi cái to bằng trôn bát ăn cơm! Thời đó ở cửa hàng ăn, mua cái gì là
"tiền trao cháo múc" và tự phục vụ nên tôi biết hai bát phở của hai
em ăn, các em đã trả tiền rồi. Đi ngoài đường đã nhìn thấy cái bảng đen thực
đơn của cửa hàng với dòng chữ nguệch ngoạc bằng phấn trắng to tướng trước cửa:
"Có:
Phở-bốn hào,
Bánh rán-một hào ba cái."
Cửa hàng cũng chỉ có hai thứ đó nên tôi mới dám mạnh mồm
"xin đãi" hai em món ngon nhất!
Vừa ăn ,tôi
vừa tìm hiểu tiếp lý lịch trích ngang của
hai em. Hai em nhà ở Văn Điển cùng học cấp ba trường Việt Ba (trường PT Việt
Nam Ba Lan hữu nghị)
Ăn đến cái bánh thứ hai thì một anh thanh niên khá lịch lãm
xuất hiện. Em Lan nói như reo:
- Anh Hiền! Anh ra đón bọn em hả?
Anh ta cười rất tươi, gật đầu. Thấy tôi ngồi cùng bàn với
hai em, nụ cười tươi trên đôi môi anh ta vụt tắt. Đôi mắt nhìn tôi như muốn
hỏi: "Mày là thằng nào vậy?"
Lan vui vẻ giới thiệu với tôi:
- Đây là anh Hiền! Anh trai em, phụ trách Bưu điện huyện,
là người...!
Lan bỏ lửng, liếc nhìn Hảo và giấu nụ cười... tế nhị... Hảo
có vẻ bẽn lẽn nhìn tôi. Thấy em gái xởi lởi, nét mặt anh ta tươi trở lại.
Lan không giới thiệu tôi với anh của Lan, chắc Lan không
quen nói dối như tôi, vả lại có Hảo ngồi đây, nói dối làm sao được! Chẳng lẽ
Lan lại nói thật:
- "Con bò lạc" dễ thương này em vừa bắt được ở
dọc đường!
Lan không giới thiệu tôi với anh của Lan là phải, để anh ta
tự hiểu...
Tôi thất vọng và hơi ngường ngượng... Một làn gió lạnh đầu
mùa phả qua mặt làm tôi chợt tỉnh. Tôi bắt tay anh ta và nói vài câu xã giao
cho phải
phép. Bỏ giở chiếc bánh đang ăn, tôi viện lý do phải đi làm
việc và chào ba người rồi đứng dậy. Lan nhìn tôi ánh mắt như muốn nói điều
gì...
Đạp xe thật nhanh, tôi về thẳng nhà. Thế là mất toi ba hào
bánh rán! Lại phải còng lưng đạp xe mấy cây số đèo em. Đúng là "dã tràng
xe cát"!
Tôi tự an ủi: "Thôi, thế cũng còn may! Chứ đúng dịp
được về nhà mới lên, "sỹ quan" lần túi áo mẹ xin được một, hai đồng
thì hôm nay còn mất thêm tám hào-hai bát phở cho các em, chắc gọi là "phí
làm quen"! Mà tôi chưa bao giờ có ý thức và sẵn sàng cho loại phí này
ngoài phí vá xe đạp của mình!
Mất ba hào nhưng học được bài "phí làm quen" cũng
hay hay! Học phí bài này có khi là quá rẻ!
Cởi áo "sỹ quan" treo ngay ngắn trên mắc, chú
lính binh nhì ngồi ngắm áo rồi tủm tỉm cười một mình, thì ra... "tuy một
mà hai!".
5 Sài Gòn, 30/08/2013
Đỗ Thành Hưng,
(Học sinh trường Trỗi chúng tôi ba năm đầu binh nhì-hai năm
cuối binh nhất-ra trường không đủ một tuổi quân trước khi vào học nên đồng loạt
nhận chuẩn uý-một năm sau mới lên thiếu uý).
"SỸ QUAN BINH NHÌ"
TRUY TÌM "ÔNG ANH HỌ".
Mải miết ôn bài để kiểm tra mấy môn học giữa kỳ. Tôi đã
quên dần chuyện "phí làm quen" của hai tuần trước. Sáng chủ nhật, tôi
mang xe đạp ra lau chùi rồi để ngoài sân cho khô ráo.
Ngồi bệt ở ngoài hiên, tôi ngắm xe xem còn chỗ nào chưa vừa
ý. Trời đã bắt đầu lành lạnh, từng cơn gió bấc nhè nhẹ tràn về làm xào xạc hàng
cau trước sân nhà. Bất giác tôi nhìn lên, mấy tàu cau non vươn thẳng như đùa
giỡn mỗi khi làn gió bấc tràn qua. Có tiếng chân đi từ ngoài ngõ vào, nhìn ra
tôi thấy Ngô Gia Hồi tới. Hồi lên tiếng:
- Hiền thế? Chủ nhật không đi chơi đâu hả Hưng?
- Lớp tớ đang ôn thi hết môn, tuần sau mới rảnh ông ạ!
Hồi ngồi xuống cạnh tôi, hai thằng nói chuyện tầm phào một
lúc. Hồi khen xe tôi đẹp rồi đứng dậy ra cầm ghi đông lắc lắc, búng búng mấy
cái vào khung xe.
- Xe thống nhất loại một có khác, tiếng kêu nghe trong ghê,
xe chắc chắn thật. Xe của Hưng đăng ký ở Hà Nội à? Q-067 này!
- Ừ! Xe của ông "Khốt" để lại đấy, ông ở Tổng cục
chính trị mà! Thế xe của Hồi đâu mà đi bộ?
- Xe tớ hỏng líp chưa sửa được, cho tớ mượn xe chạy ra chợ
tí nhé?
- Ừ, đi đi!
Hồi nháy mắt chào tôi rồi dắt xe đi. Tôi vào nhà lấy sách
vở ôn bài. Mãi đầu giờ chiều Hồi mới mang xe trả. Hồi nói:
- Về lâu rồi, lúc sáng ra chợ Lồ mua con cá mấy thằng tớ
cải thiện bữa chủ nhật. Ăn rồi nghỉ trưa, bây giờ mới trả xe ông đây.
- Trả lúc nào chả được, mình có đi đâu đâu, đang ôn thi mà!
- À Hưng ơi! Sáng chủ nhật tuần sau bọn mình đi xuống trại
cá giống xem cá chép đỏ, chép vàng cực đẹp. Có con hơn hai ký lô ông ạ.
- Ông nói sao chứ làm gì có cá chép màu đỏ, màu vàng? Từ bé
tới giờ tớ chỉ thấy cá chép đen trắng, chưa thấy cá chép màu bao giờ.
- Ở Trung Quốc tớ thấy đầy! Trại cá mới mang giống về đấy.
Rồi Hồi khích tôi:
- Phải "đi một ngày đàng mới học được một sàng
khôn" ông ạ!
- Ừ! Đi thì đi, có xa không?
- Đạp xe không quá nửa tiếng.
- Đồng ý! - Tôi trả lời quả quyết.
Hồi chào tôi rồi ra về.
Đúng hẹn, Hồi đạp xe tới rủ tôi đi. Mỗi thằng một xe, chúng
tôi đi về phía cuối xã rồi lên đê sông Cà Lồ, cứ đi dọc theo đê, tôi và Hồi đi
song đôi, vừa đi Hồi vừa kể về mối tình của Hồi và Phương.
Bây giờ tôi mới biết bố của Hồi và Phương là bạn chiến đấu
thời chống Pháp. Hai cụ là bạn tù, đã mấy lần vào tù, ra khám. Sống chết có
nhau, tình đồng chí, đồng đội đã gắn kết hai cụ còn hơn anh em ruột thịt. Hai
cụ đã hứa với nhau sẽ là thông gia nếu còn sống trở về. Tình yêu của Phương và
Hồi là kết tinh của tình đồng chí, đồng đội thuỷ chung, son sắt, của những con
người quả cảm, một lòng vì cách mạng. Một mối tình quá đẹp và đáng trân trọng
biết bao.
Vừa tò mò, vừa cảm động khi nghe Hồi kể về tình yêu của
mình. Tôi thầm cầu chúc cho tình yêu và hạnh phúc của hai bạn sẽ đơm hoa kết
trái, mãi mãi dài lâu, thuỷ chung như tình đồng chí, anh em của hai cụ.
Mải nghe chuyện của Hồi, hai chúng tôi tới một làng ven đê
mà tôi không biết là đâu. Tôi hỏi Hồi:
- Đi đâu nữa? Còn xa không Hồi?
- Đến rồi! Chỗ hàng cây dâm bụt đó.
Hồi nói rồi chỉ tay về phía trước và tủm tỉm cười. Tôi chột dạ:
- Mày đưa tao đến chỗ Phương phải không?
- Ừ! Chủ nhật đi chơi một tí cho thoải mái, chứ mày cứ ru
rú xó nhà học suốt nó mụ đầu ra đấy.
- Nhưng chiều mai lớp tao phải thi môn nguyên lý máy, tao
ôn chưa xong.
- Vào chơi một chốc, chừng một tiếng là về, được không?
Thôi vào đi!
Hồi đẩy tôi đi trước. Thế là tôi rơi vào thế "chẳng
đặng đừng" không thể thoái lui. Tôi linh cảm thấy có gì đó không bình
thường. Tôi nghĩ thầm: "vào thì vào, sinh viên đại học Kỹ thuật quân sự có
ngán gì! Cần thì giở bài "cuội" là xong!". Hai chúng tôi dắt xe
vào, dựa xe bên gốc cây cau trước sân. Trong nhà, hai em chạy ra, em ra trước
có vẻ lễ phép:
- Em chào anh Hồi!
Rồi khẽ gật đầu, lý nhí chào tôi. Cô bạn ra sau tươi cười,
niềm nở:
- Em chào anh Hưng!
Em không chào Hồi mà chỉ nhìn âu yếm rồi đon đả mời hai anh
vào nhà. Thấy thái độ hai em khác nhau, tôi nhận ra ngay em ra sau là Phương.
Cái cảm nhận đầu tiên của tôi khi gặp Phương: Phương là một người con gái đẹp,
một cái đẹp rất thánh thiện. Từ phong thái, lời nói và con người Phương toát ra
một sự đài các, kiêu sa nhưng kín đáo, thông minh và lanh lợi. Tôi mừng cho Hồi
có người yêu là một cô gái "tài sắc vẹn toàn".
- Anh Hồi pha nước cho em đi! - Phương giục Hồi.
Tôi tìm cách chủ động cho lần gặp gỡ đầu tiên:
- Phương ở đây có hai chị em thôi à? Bác chủ nhà không có
nhà hả Phương?
- Vâng! Mỗi nhà chúng em ở có hai đứa. Hai bác chủ nhà ra
đồng cả rồi. Mà sao anh Hồi chưa giới thiệu, anh đã biết em là Phương?
Tôi lên giọng kẻ cả, tỏ ra người sành sỏi ngoại giao:
- Nhìn thái độ là biết chứ cần gì phải giới thiệu!
- Các anh tinh thật đấy. Sinh viên đại học kỹ thuật quân sự
có khác!
Tôi thấy vui vui trước lời khen có vẻ thán phục của Phương
và thầm nghĩ:
đấy là em chưa biết tài bẩm sinh của tôi là "nói như
cuội". Em mà biết thì phải phục lăn chứ chẳng chơi!
Hồi mang nước ra bàn và chúng tôi ngồi uống nước. Tôi và
Hồi ngồi một bên, Phương và bạn ngồi một bên. Phương giới thiệu bạn của mình
rồi giới thiệu tôi với cô bạn của Phương. Qua mấy câu chuyện tầm phào, nửa thân
mật, nửa xã giao, Phương nhìn Hồi và tôi rồi nói:
- Bọn bạn em đứa nào
cũng ngưỡng mộ sinh viên đại học kỹ thuật quân sự lắm đấy. Chúng nó cứ tị với
em "Phương may mắn có anh Hồi", cậu nhớ giới thiệu cho bọn này làm
quen với bạn anh Hồi nhá.
Nghe Phương nói, sự
kiêu hãnh dâng tràn trong tôi. Còn Hồi không nói gì, chỉ cắn hạt dưa và tủm tỉm
cười. Phương nói tiếp:
- Mấy tuần trước em
có hai đứa bạn đi chơi về khoe: bọn tớ xuýt "tóm" được một anh bộ đội
"sỹ quan" hẳn hoi, trẻ, đẹp trai, da trắng, cao cao, môi đỏ tươi như
môi con gái, nói chuyện dẻo như kẹo. Nhưng chưa đâu vào đâu thì anh ta chạy
mất. Tiếc ơi là tiếc!
Nghe vậy tôi hơi giật mình, chả lẽ là chuyện của mình...?
Tôi trấn tĩnh để đáp lại lời Phương.
- Bộ đội thì đầy, sinh viên bưu điện nhặt đâu chẳng được!
- Ứ!... Không dễ đâu anh, phải là bộ đội đại học như các
anh cơ. Em nghe anh Hồi em kể về anh và mấy anh nữa, em kể lại cho chúng nó
nghe, chúng nó khoái lắm, cứ đòi được làm quen với các anh đấy.
Tôi giả bộ khiêm tốn:
- Bọn anh toàn những đứa dở hơi thôi em ạ, quen làm gì!
Nói rồi chúng tôi cùng cười. Phương bảo bạn:
- Loan ơi! Cậu lấy
bánh mời anh Hồi và anh Hưng ăn đi, quên mất!
Phương lấy kéo, vừa
nói chuyện vừa cắt đôi từng chiếc bánh rán ở trong đĩa.
Thấy đĩa bán rán tôi
đã nhột nhột... Phương tiếp:
- Bánh rán bột nếp nhân đậu xanh hẳn hoi. Em và Loan vừa
làm sáng nay để đãi hai anh đấy!
Nhìn những chiếc bánh rán vàng ươm, nhân đậu xanh vàng tươi
mà tôi đã thấy thèm quá, cố giấu nước miếng bằng cách uống ngụm trà để khoả
lấp.
Tôi nghĩ: "Ước gì được ăn rồi nói chuyện gì hãy nói
thì tuyệt biết bao nhiêu".
Phương lại tiếp:
- Em nghe anh Hồi nói anh Hồi và anh Hưng thân nhau lắm?
Chả nhẽ lại trả lời Phương là: "Không thân lắm đâu vì
khác lớp". Tôi ừ đại cho xong:
- Ừ! Bạn học với nhau thì phải thân rồi!
- Đã vậy anh đồng ý cho em coi anh như người anh trong nhà
nhé?
Tôi chưa biết trả lời ra sao, thôi thì cứ ừ bừa đi để chóng
được ăn bánh đã, có gì tính sau.
- Sợ em chê, chứ được anh Hồi đồng ý thì anh giơ cả hai
tay!
Phương hỏi Hồi:
- Anh Hồi đồng ý nhé?
Hồi cười rồi gật đầu.
- Đấy nhá! Anh Hồi đồng ý rồi. Em coi anh Hưng như người anh
em họ được không?
Nghe vậy tôi thấy có gì đó không ổn rồi, chắc tôi đang bị
giăng bẫy? Chưa biết nói sao thì Phương đã cắt xong bánh, Phương đặt đĩa bánh
giữa bàn, tươi cười nhìn hai chúng tôi:
- Em mời anh Hồi, em mời "anh họ" của em ăn bánh!
Bánh rán bột nếp chắc chắn ngon hơn bánh rán của cửa hàng đấy!
Tôi nghe
mà ngỡ ngàng, sững người! Chết tôi rồi! Phương đã biết hết mọi chuyện của tôi
mấy tuần
rước nên Phương đã chủ động làm bánh rán đãi tôi. Vậy là
tôi đã bị Hồi và Phương cho vào bẫy mất rồi! Cầm miếng bánh Phương đưa mà tôi
không biết làm gì, chỉ còn thấy mùi thơm của bánh rán toả ra. Tôi đỏ mặt vì xấu
hổ. Nghĩ tới câu chuyện "cuội" của tôi mấy tuần trước, nay Phương đã
biết tỏng rồi! Thấy tôi ngồi ngây ra, Phương giục:
- Kìa anh Hưng, ăn
bánh đi anh!
Tôi ngượng ngùng cắn
một tí, chẳng còn thấy cái thơm, cái ngậy, cái ngọt của bánh rán nếp là gì.
Tôi trở nên đần độn,
vụng về, chưa biết cách gì đối phó. Cái kiêu hãnh của tôi tan biến đâu rồi? Tài
bẩm sinh "cuội" của tôi cũng không kịp chỉ đường mách lối. Phương và
Hồi thấy tôi ngồi ngây ra, hết đường chống đỡ. Chắc không nhịn cười được nữa,
Phương và Hồi cùng phá lên cười làm tôi càng xấu hổ và lúng túng. Hồi ôm lấy
tôi vừa cười vừa nói:
- Bọn tớ đùa tí thôi, tuổi trẻ mà, phải thế mới vui, đời sinh viên đang đẹp ông ạ!
- Bọn tớ đùa tí thôi, tuổi trẻ mà, phải thế mới vui, đời sinh viên đang đẹp ông ạ!
Tôi xấu hổ nhưng
không biết chống chế thế nào nên cũng phải cười theo. Em Loan cũng cười chúm
chím. Rồi chúng tôi ăn bánh, hỏi chuyện học hành của nhau. Thấy đã lâu lâu, tôi
bấm Hồi, Hồi nói:
- Thôi! Bọn anh về
đây! Mai có kiểm tra phải về ôn bài, lần khác tới chơi lâu hơn nhá!
Phương vẫn chưa tha
cho tôi. Phương hỏi:
- Anh Hưng ơi! Mấy
giờ rồi anh?
Trong khi trên tay
Phương cũng có đồng hồ. Tôi không dám kéo tay áo bốn túi xem giờ như mọi khi mà
trả lời phỏng chừng để đối phó:
- Chắc gần mười giờ
rồi còn gì! Bọn anh về nhá!
Phương tiễn hai
chúng tôi lên tận bờ đê mới chia tay. Phương còn lèo thêm một câu như cảnh cáo:
- Anh Hưng biết
trường Việt-Ba không? Tiếc quá! Hôm nay hội trường, Lan và Hảo về dự rồi, không
tới chào anh được. Hẹn lần sau anh Hưng nhé!
Đường khó đi, hai
anh đi cẩn thận, không rơi xuống ổ gà là ngã đấy!
Nói xong, Phương
cười rất tươi, vẻ đắc thắng, rồi giơ tay vẫy vẫy và gật gật đầu tạm biệt, nửa
như chọc tôi, nửa như khuyến khích...
Tôi đỏ mặt, cười trừ
rồi chào Phương.
Trên đường về tôi
trách Hồi:
- Ông chơi tôi ác
quá! Làm tôi chết đứng, không biết ứng phó, xoay sở làm sao!
Hồi lại cười phá lên
và nói:
- Chuyện vui, đời sinh viên mà! Có gì đâu! Có khi lại là
một kỷ niệm đẹp đấy ông ạ!
- Thế sao Phương biết chuyện này của tớ? Tớ đã kể cho ai
nghe đâu?
không có anh họ nào là bộ đội ở độ tuổi hai mươi, hai mốt
như các em tả.
Tụi sinh viên nữ nó tinh lắm. Nó nói với Phương: nhìn anh
ta bọn mình đoán ngay là bộ đội học trò rồi! Dù khoác cái áo bốn túi nhưng
không che được cái mặt búng ra sữa! Da dẻ thì trắng, môi đỏ tươi,... chắc chắn
là bộ
đội trong nhà chứ không phải là bộ đội ngoài trận địa dãi
nắng, dầm mưa.
Bọn mình đang nghĩ cách làm quen thì anh ta lại làm quen
trước. Nhận là anh họ của Phương, lại không nói đủ họ tên em gái nhưng biết rõ
người yêu của nó là Ngô Gia Hồi, thì chắc chắn là cùng học với anh Hồi rồi!
Chúng tớ biết thừa anh ta hỏi đường là kiếm cớ làm quen. Chứ bộ đội "sỹ
quan" gì thời chiến mà lại không biết đường từ nơi đóng quân về huyện?
Quần áo thì sạch sẽ, mới toanh, giầy đen bóng loáng! Chủ nhật chắc đi chơi đây!
Được
cái nói năng lưu loát, dễ thương! Lúc anh ta từ chối vào ăn
là tớ biết anh ta kiếm cớ chạy làng. Cơ quan huyện chả ai làm việc ngày chủ
nhật, trừ người trực. Mà trực để giải quyết việc quân sự thời chiến. Anh ta thì
đi tay không, ăn mặc tươm tất như đi dạo phố! Cái mặt thì non choẹt, nhìn là
biết không phải lính trận mạc rồi! Nhưng anh ta cũng khôn, biết để ngỏ cửa còn
quay lại: " xong việc anh ra ngay"! Vào cửa hàng ăn, tớ và Hảo bảo
nhau: "chỉ tí nữa thôi là anh ta quay lại đấy!" thì y như rằng...!
Lúc anh ta ra quầy, lại đứng khuất sau quầy hàng, mình lén
ra coi thấy anh ta đang lục túi tìm tiền, nhìn mà buồn cười quá! Về bàn ngồi,
mình nói với
Hảo:
- Mình sắp được ăn bánh rán mì rồi!
Một lúc sau anh ta hồ hởi mang mấy cái bánh rán vào. Bọn
mình cứ để yên xem anh ta diễn tới đâu...Thì ra sinh viên đại học kỹ thuật quân
sự cũng ngù ngờ, nhút nhát thật Phương ạ! Thấy anh ta có vẻ có cảm tình với
Hảo, khi anh Hiền mình tới, mình nói bỏ lửng một câu thăm dò bản lĩnh anh ta,
thế là "thần hồn nát thần tính", anh ta tìm cớ thối lui. Mình định
nói là đùa để anh ta khỏi sợ, chưa kịp nói thì anh ta đã đứng dậy bỏ chạy mất
tăm! Anh Hiền đã gần bốn mươi rồi mà anh ta không biết suy luận gì cả, là
người... anh cả hay anh hai, anh ba của tớ thì sao? Nhưng anh ta quên mất rằng
cái xe đạp thống nhất, biển số Q-067 là
"dấu lông
ngỗng" của "chàng Mỵ Châu" còn để lại! Cậu nói anh Hồi tìm bằng
được "ông anh họ" của cậu cho chúng tớ nhé!
- À...! Ra thế! Nên
chủ nhật trước ông xăm soi biển số xe rồi mượn xe tôi phải không? Nói dối là đi
chợ!
Hồi cười to:
- Chứ gì nữa! Tớ đạp xe xuống chỗ Phương, hai em Hảo và Lan
thấy xe ông là cười ngất vì tớ tóm được "cuội" rồi!
Tôi lại trách Hồi:
- Biết được rồi thì thôi! Sao hôm nay ông lại
"giải" tôi đi gặp Phương mà không nói trước? Để chịu thất thủ ngay từ
cú ra đòn đầu tiên của Phương, mình không nói gì được!
- Nói trước để ông từ chối à! Phương nhất định bắt tớ phải
tìm cách "dẫn giải" ông tới để Phương xem mặt "ông anh họ"
đẹp trai cỡ nào mà Lan và Hảo nó khen nức nở! Nhân tiện xem "tài" ứng
phó của "cuội" ra sao đấy!
Thế mà bấy lâu nay tôi cứ tưởng bọn sinh viên đại học kỹ
thuật quân sự chúng tôi là nhất! Các em chỉ là những cô "cừu non". Dù
nói thật hay "cuội" thì các em cũng tin sái cổ! Thì ra bọn tôi mới là
những
"chú cừu"
ngù ngờ nhất! Bấy lâu nay chỉ toàn tự huyễn hoặc mình, tự kiêu, tự đại trước
các em.
Tôi hỏi Hồi:
- Sao các em mới học năm thứ nhất mà tinh ranh, sắc sảo vậy
Hồi? Họ phân tích và nhận định về chỗ sơ hở của tớ là quá đúng! Mình không thể
ngờ được mình sơ hở như vậy!
- Ông ơi! Va chạm cuộc sống thì các em là năm thứ ba, thứ
tư đấy. Bọn mình mới là năm thứ nhất thì có! Đây nhá: bốn, năm năm nay, bọn
mình ở trường quân đội, toàn ở rừng, ở rú, có được thường xuyên tiếp xúc với
cuộc sống đâu. Nghỉ phép một tháng, chưa kịp hết nhớ mẹ thì lại về trường rồi.
Những bài diễn của ông hôm trước là xưa rồi! Đó là bài của mấy cậu học sinh
đang tập toẹ! Bọn con gái nó tinh ranh hơn bọn con trai tụi mình nhiều!
"Nhìn mặt" là họ "đặt được hình dong" ngay. Không "cuội"
được đâu!
Tôi gãi đầu và tiếp lời Hồi:
- Ừ! Thảo nào bây giờ tớ mới biết có cả "phí làm
quen"! Đúng là mình khù khờ, ngớ ngẩn thật!
Nói rồi hai chúng tôi cùng cười.
Ngày tháng
trôi qua, vào năm thứ tư chúng tôi lại chuyển đi nơi khác. Mải mê vào học những năm cuối, rồi thi tốt
nghiệp-ra trường mỗi đứa một nơi- chiến tranh-khó khăn trong cuộc sống-lại khác
ngành nghề-rồi lo công, lo việc-lo gia đình, tôi và Hồi, Phương không có điều
kiện liên lạc gì với nhau nữa.
Bốn mươi lăm năm sau, viết lại kỷ niệm này, tôi nhớ tới họ
và liên lạc qua điện thoại. Gặp Phương. Nghe tôi tự giới thiệu về mình, Phương
nhận ra ngay. Kỷ niệm cũ ùa về, vẫn với giọng cười hồn nhiên và tinh quái, dù
đã ở cái tuổi lưng còng, tóc bạc, răng long cả rồi! Chúng tôi ôn lại kỷ niệm
thời sinh viên hồn nhiên, ngây ngô và ấu trĩ... nhưng thật đáng yêu, đáng nhớ!
Phương hứa sẽ chuyển lời hỏi thăm của viên "sỹ quan
binh nhì" "thích ăn bánh rán"năm xưa tới Hảo và Lan ở lần họp
lớp tới. Nói lời tạm biệt, dù giọng nói không còn trong trẻo, tròn trịa như
xưa, nhưng Phương vẫn không quên chọc tôi:
- phem phào "phông phanh phọ" phủa phem!
dịch là: - em chào "ông anh họ" của em.
Sài Gòn, 18/09/2013
Đỗ Thành Hưng,
B5-C213
Ký ức thời gian .
Thursday, April 2, 2015
Đỗ
Đăng Đích
Tháng tư__Dấu ấn lịch sử của Dân tộc Việt Nam
ta , non sông thu về một mối .Những ngày này , đầu tháng của hơn 50 năm về trước ,thời
gian là đã trên nửa thế kỷ , nhưng vẫn còn không phải và gần như kéo ta về những năm tháng tuổi trể thơ mộng
đầy ước mơ hoài bão . Có ai nhớ về những
ngày tòng quân vào Hải quân Việt Nam quá
non nớt và những người thủy thủ cũng quá non nớt thơ ngây , có lẽ người ta bắt
đầu bộ quần áo lính và ngày tòng quân trong thời thanh bình cũng bình thường ,
còn tôi không bình thường như người ta .
Những dòng viết vội này để mà nhớ lại một thời xa xôi , thanh bình và
nghèo nàn trong cái nghèo nàn của Đất Việt vừa qua ách thống trị của đế quốc
mới chỉ trên nửa phần đất nước , nhưng người Việt sống trên miền Bắc bộ đã thấy
tương lai và sung sướng dù trong chân thanh niên chỉ là đôi guốc mộc và bộ quần
áo mới chỉ là vải nâu xồng nhuộm màu nâu – áo bà ba với mọi nhà , có cái áo
như hôm nay tựa như nay ăn Yến xào thượng hạng vậy
Cuối tháng 3 - 1962 , tôi được báo tin đi bộ đội nghĩa vụ , vào thời
điểm ấy chính phủ đã có lệnh
các Cơ quan ,xí nghiệp không có
quyền giữ cán bộ công nhân viên lại mà ai được gọi nghĩa vụ quân sự đều phải
chấp hành , bởi thời kỳ thí điểm đã qua
. Khi ấy tôi vừa học xong lớp Thợ Tiện của bộ công nghiệp nhẹ ___ Trường công
nhân Cơ điện mở tại nhà máy liên hợp Dệt Nam Định , tuy đang còn trong thời
gian hưởng lương quy định chưa xếp bậc thợ theo quy trình đào tạo , tôi đã được
giao nhiệm vụ tổ phó Sản xuất xưởng Tiện cơ khí Dệt Nam Đinh ;được gọi nhập ngũ
nhà máy cơ khí cho nghỉ phép và đi chào
hỏi chia tay các bác thợ già , bạn thợ trẻ , Tôi chia tay các bác thợ mà tôi đã
dạy bổ túc văn hóa cũng như các bạn cùng lớp bổ túc cấp 3 và lớp học Chính trị
lớp B , nhận những cuốn sổ quà lưu niệm
trước khi rời xa nhà máy vào quân đội .
Sau nghỉ phép tôi đến nhà máy để đến nơi giao quân , nhưng lại được lệnh
hoãn mấy anh em chúng tôi có 3 thợ tiện , một thợ nguội cùng một thợ xưởng thoi
suốt , thay chân chúng tôi là mấy người khác trong cùng nhà máy cơ khí .
Chiếc ô-tô Hải Âu bấy giờ chở công nhân ở
xa đi về , đưa quân đến nơi giao nhận __ Nhà hát nhân dân gần đó . Mấy anh em chúng tôi được giữ lại không
đi với thông báo : Đơn vị lấy quân họ
không về nhận quân ; dù nghe vậy chúng tôi vẫn lên ô-tô đến nơi giao quân
. Đến nơi chúng tôi được biết Các cán
bộ của Hải quân về nhận chúng tôi nhập ngũ , không phải như nhà máy thông báo .
mấy anh em chúng tôi bực bội vì bị lừa và hơn nữa mọi việc chia tay đã chắc
chắn để đi làm nghĩa vụ quân sự ,không thể ở lại và chúng tôi quyết định nhập
ngũ .
Sau khi biết chúng tôi quyết định đi , Bí
thư Đảng ủy ra can thiệp với Chính trị viên phó tiểu đoàn huấn luyên đi nhận
quân , thương lượng nhưng Hải quân quyết không nhận người thay thế nghĩa vụ,bí
thư đành đồng ý để một thợ tiện , một thợ nguội nhập ngũ ; còn tôi thợ tiện –
tổ phó sản xuất bé nhất trong 3 thì cả Bí thư và Chính trị viên đều không thể
nhất trí, Chính trị viên quyết lấy đi ,
Bí thư quyết giữ lại ; đi hay ở ; cuối cùng ông Chính trị viên và bí thư đồng
ý đi hay ở là do tôi quyết định . Tôi đã sẵn sàng đi làm nghĩa vụ quân sự rồi
về tiếp tục học tập và lao động cho dù phải phục vụ 4 năm dài hơn 2 năm so với
Bộ binh .
Nhà hát nhân dân nơi trao nhận quân nghĩa vụ đã không còn ai , đã nhận
quân xong , chỉ còn tôi và Chính trị viên cùng Bí thư , bấy giờ tôi đã sẵn sàng
từ khi đến xưởng với vài cuốn sách mguyên lý triết học và sổ tay toòng teng
trong túi lưới ni-lon , Ông Chính trị phó tiểu đoàn huấn luyện có xe đạp chở
tôi đến nơi nhận quân phục . Về đến nơi nhận quân phục chỉ còn mình tôi nhận bộ
quân phục , giày mũ cuối cùng để chuẩn bị sớm hôm sau hành quân , đi đâu chúng
tôi cũng không biết .
Về sau tôi biết , Mẹ tôi buồn lắm , Người chỉ biết nằm khóc .vì chỉ mình
tôi là con trai mà bấy giờ người ta thường gọi là nhà con một , đi nghĩa vụ tới
4 năm mới về và 2 năm sau mới được phép thăm nhà , nghỉ phép .
Vào những năm 62 tàu hỏa chỉ vào đến bên đây phà Lèn vì chưa
có cầu Hàm Rồng , nên chúng tôi qua phà Lèn và bắt đầu 12 ngày đêm hành quân bộ
dọc quốc lộ 1 trong nắng tháng 4 để vào
Nghệ An
và trú quân trong nhà dân bên
sông Lam , bên quốc lộ 8 sang Lào để huấn luyện bộ binh và chuyên môn trên tàu
Tuần la Hải Quân .
Thấm thoắt trôi đi đã không phải 4 năm , mà cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc tiếp
tục với cuộc chiến tranh chống Mỹ,thống
nhất đất nước đến 30 tháng 4 -1975 đã
gấp hơn 3,4 lần nghĩa vụ người lính thủy
trên tầu và Tôi đã gắn đời mình vào Binh Nghiệp _Sỹ quan __ Kỹ sư quân sự Việt
Nam .
Một năm huấn luyện vất vả trôi qua , lại trong những ngày tháng Tư , hơn
mười anh binh nhất chúng tôi được phân phối ra căn cứ 1 miền bắc vì chúng tôi
được huấn luyện ở Căn Cứ 2 Hải Quân nằm trong làng dân nằm cạnh quốc lộ 8 sang
Lào __ Hưng Nguyên Nghệ an .
Chúng tôi về Hải phòng và rồi mỗi người xuống những con tàu khác nhau
hoặc ở trên bờ sở chỉ huy các phân đội
khu Tuần Phòng Hải Phòng . Tôi và vài đồng đội nữa được phân về đơn vị
vận tải biển và chờ thuyền tạm ở trên bờ bên Thủy Nguyên Hải Phòng _ Một cảng
nhỏ đối diện Nhà máy xi- măng bên bờ Sông Cấm ,ra Bến Phà Bính phải đi dọc đê
vài ba Km ; bấy giờ cảng nhỏ này chỉ có các xuồng nhỏ và chiếc tàu há mồm của
Pháp để lại mang số 407 _ Cảng và sở chỉ huy của Đoàn tàu không mang số hiệu
Đoàn không số .Mấy anh em chúng tôi ở bờ đợi tàu nên vẫn được chế độ ăn Hải táo của lính dưới
thuyền tuy nhên thấp hơn đồng đội ở tàu tuần la 79.chúng tôi đợi tàu và tập
chống say sóng với các dụng cụ đơn giản như vòng lăn , cầu sóng và thể dục chống
sóng để chuẩn bị đi biển trên những con
tàu sẽ lênh đênh trên biển . Chúng tôi cũng chờ nhận nhiệm vụ cơ điện tàu vận
tải mới không phải tàu tuần la tốc độ cao mà là tàu nhỏ vận tải máy và hệ thống
điện sẽ được học bổ túc , đồng thời được
phổ biến những yêu cầu khi đi làm nhiệm vụ và chúng tôi ra phố Hải Phòng được
mặc thường phục . Khoảng thời gian của
Tháng Tư bắt đầu mùa hạ , Thành phố Cảng
với chúng tôi trở nên thân thiết , là Thủ đô của chúng tôi , bến bờ . mái nhà
trên đất liền của chúng tôi , chúng tôi đinh ninh như vậy . Hải phòng trong
những ngày thanh bình phố xá đông vui , chúng tôi vô tư hòa vào dòng phố thanh
niên trong chiều thứ 7 , Chủ nhật cũng vô tư với những bản nhạc La Paloma vang
trên trước cửa các rạp chiếu phim lớn . Đường
phố Hải Phòng đầy tiếng nhạc và thời gian ấy chỉ Hải Phòng mới đủ các
loại sắc phục của lực lượng vũ trang Hải lục không quân và bộ đội biên phòng
. Tháng 4 Hải Phòng rộn rã , Trên Cảng
vắng , tôi được giao nhiệm vụ trong khi chờ tàu là lái xuồng gỗ gắn máy đẩy đưa
các cán bộ chỉ huy đi ngang Sông Cấm sang Bộ Tư lệnh mỗi khi các Thủ trưởng đi
họp . Rồi những ngày tháng 4 chờ tàu , tôi lại được cử về Hà Nội để học văn
nghệ phục vụ cho quân đội thời bình và các đoàn công tác trong quân đội thời
bình . Tôi cũng không hề nghĩ đến sẽ
được về Thủ đô HANOI .
Rời Hải phòng về Hà Nội học tập
ít ngày , tôi được lệnh tập kết tại sân bay Bạch Mai . Đến HÀ NỘI tôi đi bộ đến
sân bay Bạch Mai bấy giờ nằm sâu trong phần đất xa mặt đường phố gần ngay phi trường bỏ hoang cỏ
mọc có mấy gian nhà trống , về đây tôi gặp lại vài đồng chí cùng huấn luyện tân
binh ở miền trung ra . Dưới nắng chang chang của tháng tư , trong lòng sân bay
Bạch Mai bỏ hoang , một lớp lính chúng tôi , toàn là binh nhất , hạ sỹ của toàn
quân được tập trung và ngủ trên những tấm phản cá nhân , bữa cơm mang bát đến
nhà ăn tạm với chế độ đại táo trên bờ và học cho thuộc Hai bài hát “ Giải phóng
Miền Nam “ của Huỳnh Minh Siêng và bài “ Cờ Ba nhất “ , cộng vào đó là học Sáng tác Múa Tập thể ;
giáo viên là các anh chị lớn tuổi hơn chúng tôi ba bốn tuổi , chúng tôi cũng
không biết Họ từ đâu đến , nhưng đều là những diễn viên ca hát , sân khấu và có
chị nói là học ở Liên –xô ( CCCP ) tới 6,7 năm , Lớp học chỉ chừng hơn vài
tháng và nhiệm vụ của chúng tôi về đơn vị sáng tác những điệu máu tập thể để bộ
đội sinh hoạt văn hóa của bộ đội thời bình , đồng thời phổ biến , lan tỏa bài
ca chính thức của “ Mặt trận giải phóng “ là bài “ Giải phóng Miền Nam “ . .
Chúng tôi được học chính là những động tác Cơ
bản cho sáng tác múa tập thể , những động tác cơ bản để tạo nên điệu múa , tuy
nhiên là ít ỏi và cơ bản nhất , cùng với học hát , học thuộc một điệu múa , và
học về nhạc lý cơ bản __ Nốt nhạc và hát âm . .
Những tháng 4 đầu hè đáng nhớ ấy còn theo bước chân chúng tôi trên các nẻo đường của tổ quốc
, hải đảo , núi rừng Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ,
Và rồi , cũng những ngày tháng tư , tôi về đoàn không số chờ tàu , nhưng
số phận và yêu cầu thay quân của đoàn vận tải , vì tôi đã có thực tế một công
nhân cơ khí nên lại được điều động rời đoàn không số xuống tàu há mồm __ Tàu
Tan-kit nhỏ của Trung Quốc và đi vận tải biển với nhiệm vụ lính máy và cơ điện
hạm thuyền .
Những năm tháng tuổi trẻ và những ngày tháng tư , tháng năm của một thời
hòa bình trong bộ quân phụ lính thủy là như vậy . Tháng tư và đất cảng Hải
Phòng với hải quân chúng tôi có thể không bao giờ quên một thời trai trẻ với
bài hát “ Nhổ neo ra khơi “ . mà Tư lệnh trưởng bấy giờ là Thiếu Tướng Tạ Xuân Thu __ Một vị Tướng nghe nói từ Pháo Binh chuyển
sang .
Rồi Tháng Tư 1975 , trên đất Thủ Đô HANOI , trong nhiệm vụ
một Sỹ Quan Kỹ Thuật _ Kỹ sư quân sự ở
Cơ quan cục , chúng tôi lại mở bản đồ quân sự để theo dõi cuộc tiến công thần
tốc đến giải phóng SAIGON , Lúc đầu chúng tôi dung bản đồ 1/50 về sau để theo
dõi địa danh vị trí sát hơn chúng tôi treo bản đồ 1/25 và nhận tin từ Cục Tác
chiến thông báo từng chiến điểm và quyết chiến điểm dọc miền trung trong đèo
Hải Vân cho tới cửa ngõ Sài Gòn ; Chiến thắng đến đâu là lại thêm một hình vẽ
lá cờ Mặt trận lên địa danh đó của bản đồ quân sự mà mãi về sau chúng tôi được biết gọi là “
Chiến dịch Hồ Chí Minh “ mà trực tiếp Tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị
trực tiếp chỉ đạo , chiếm thời cơ thần tốc giải phóng miền nam thống nhất đất
nước . Bây giờ lại sắp đến kỷ niệm giờ
phút thanh bình vĩnh viễn 11h 30 ngày 30 tháng 4 – 1975 .
Năm nay , lại sắp đến ngày kỷ niệm chiến
thắng 30 tháng 4 , nhưng nó không còn hào hứng như mấy chục năm trước , không
phải trong lòng cựu chiến binh chúng tôi mà cả trong các tầng lớp nhân dân . Có
thể nhân dân chờ đón những đổi thay và chiến thắng mới trong xây dựng đất nước
và cuộc sống thanh bình giàu có . cho
nên , cái không khí của Kỷ niệm chiến thắng đã trầm xuống đưa người ta về với
những ký ức xa xăm không thể nào quên những năm tháng tuổi trẻ đầy gian nan ,
vất vả mà nỗi nhọc nhằn ,,chịu đựng đặt lên vai không chỉ quân đội nhân dân
Việt Nam mà là đặt lên vai cả một lớp thanh niên và nhân dân Việt Nam , dân tộc
Việt Nam trong những năm cuối của thế kỷ
20 .
Đỗ T hành Hưng
HỒI
KÝ
CHÍNH TRỊ VIÊN CỦA TÔI
*** Đỗ Thành Hưng
Trước
ngày đi B, tôi được bổ nhiệm làm đại đội trưởng, tôi dọn về ở cùng phòng với
chính trị viên Đặng Đức Sỹ để hai anh em tiện bàn bạc, trao đổi công việc, phân
công nhau chuẩn bị mọi mặt cho đơn vị để lên đường đúng ngày giờ quy định. Thời
gian chuẩn bị chỉ khoảng bốn tuần. Chúng tôi quá bận, không có thời gian về từ
biệt gia đình dù chỉ một nửa ngày là đủ. Tôi và anh Sỹ cũng chưa kịp tìm hiểu
kỹ về nhau. Ban ngày cũng ít khi được ngồi ăn cơm với nhau, ai về trước thì ăn
trước. Buổi tối chúng tôi trao đổi công việc đã làm trong ngày và thống nhất
công việc ngày mai. Tối đến, mệt mỏi vì lo toan suốt cả ngày, chúng tôi hỏi về
nhau dăm ba câu rồi mỗi người đắm vào suy tư của riêng mình và chìm sâu trong
giấc ngủ. Tôi biết anh đã có vợ và hai
con, gia đình ở Uy Nỗ, Đông Anh. Anh đi bộ đội từ những năm 59-60, dáng người
to cao, khoẻ mạnh, chắc chắn, cằm hơi bạnh, vẻ mặt cương nghị. Dáng làm quân sự
hơn là làm chính trị. Tôi hình dung dạng người và khuôn mặt khá giống Nguyễn
Kháng Chiến ở tiểu đội tôi thời đi học. Chiều ngày 15/12, sau khi tổ chức kết
nạp Đảng cho tôi, anh và cậu liên lạc tên Nguyện, quê Chương Mỹ cùng vài anh em
nữa, lên xe của
Trung Đoàn sang Vĩnh Yên nhận tám xe bọc thép BTR-60 BP
phối thuộc cho đại đội tôi để chở quân đi B. Đêm khuya ngày 16/12, đoàn xe phối
thuộc cho đại đội về tới Xuân Mai, tôi vẫn chong đèn ngồi đợi. Một dáng người
to cao, áo quần xốc xếch, chật căng, chân đất, tay xách đôi giày đen bước vào
phòng. Anh quăng đôi giày xuống đất, nét mặt căng thẳng, hầm hầm. Tôi nhận ra anh
nhưng gương mặt rắn rỏi, cương nghị của anh hàng ngày - gương mặt người chính
trị viên của tôi sao lại thay bằng gương mặt lạ lùng vậy? Anh không nói không
rằng và ngồi xuống ghế. Tôi chưa hiểu điều gì, chưa kịp hỏi anh có chuyện gì
thì cậu Nguyện liên lạc bước vào, cũng áo quần xốc xếch, chân đất, gương mặt
thất thần, tái mét, một bên mắt và má trái tím bầm, sưng húp. Tôi vội chạy lại
đỡ Nguyện ngồi xuống ghế và hỏi:
- Sao thế này hả
Nguyện?
- Dạ! Em bị chính
trị viên đạp vào mặt ạ!
Nghe vậy máu trong huyết quản tôi thấy nóng dần. Tôi liếc
nhìn anh và ném về phía anh một cái nhìn trách móc và có phần giận dữ. Một ý
nghĩ rất nhanh trong đầu tôi: Một cán bộ, một Đảng viên, một sỹ quan mà đánh
lính trước giờ ra trận thì dù bất luận đúng sai thế nào cũng không thể chấp
nhận được! Hình ảnh người chính trị viên, người giới thiệu tôi vào Đảng mà thế
này ư? Xử lý sao đây?
Tôi còn đang mông lung, bối rối thì anh mở tủ
rồi đi lại phía tôi và Nguyện. Anh đưa tôi hộp dầu cao sao vàng và nói:
-
Anh Hưng, xoa nhẹ cái này cho cậu ấy giúp tôi!
Rồi anh gọi cậu liên
lạc của tôi lấy nước nóng, pha muối, vò khăn chườm cho Nguyện. Lấy quần áo ấm
cho Nguyện thay. Sao nhỉ? Chuyện gì đây?
Tôi thật không hiểu
gì cả! Anh lấy quần áo của mình thay bộ quần áo chật căng chắc không phải của
anh. Tôi thật sự bối rối. Tôi vội thay ấm trà pha nước mời anh để hỏi sự tình,
uống ngụm trà ấm rồi anh rành rọt nói rõ ngọn ngành. - Đoàn xe của mình đi qua
bến phà Mía, xe tôi ngồi, bơi tới giữa sông thì nước tràn vào, không rõ vì sao?
Chắc do động tác lái không đúng. Cậu lái xe và trưởng xe bật cửa nhảy ra. Xe
chết máy và chìm rất nhanh. Tôi kịp bật cửa pháo thủ nhảy ra, Nguyện ở trong
cũng lần được cửa pháo thủ trồi lên. Trong đêm tối có nhìn rõ cái gì xung quanh
đâu! Nghe tiếng kêu cứu, thuyền của dân hai bên sông chèo ra cứu kịp cả bốn
chúng tôi. Ông tính, rét thế này bao nhiêu áo ấm mặc cả vào người, lại đôi giày
cô-sư-ghin chết tiệt như đeo đá vào chân, không thể tháo ra được. Tôi chỉ kịp
cởi phăng cái áo bốn túi, cái áo len, vừa bơi, vừa kêu cứu. Bỗng thấy loằng
nhoằng ở chân, tôi biết là Nguyện cố bíu chặt chân tôi trong cơn hoảng loạn.
Tôi lấy hết sức bình sinh đạp cậu ấy thật mạnh, cậu ta buông chân tôi ra....
Nguyện chen vào:
- Em bị choáng, chỉ còn lơ mơ thấy ai túm tóc em.
Anh nói tiếp:
- Lúc ấy cứ đạp thôi, biết chỗ nào mà tránh, rồi tôi túm
tóc cậu ta, tôi bơi có một tay.
Cũng may, tôi có một thời gian ở vùng sông nước, lại có sức
khoẻ, biết bơi, có chút kinh nghiệm cứu người khi cùng bị đuối. Không để cho họ
túm được mình trong cơn hoảng loạn. Nếu không thì chết cả hai. Tháng này nước
sông Hồng cạn, lưu tốc nhỏ chứ mùa mưa lũ thì thầy trò tôi chắc không còn thấy
được anh em!
Lên thuyền, Nguyện bị ngất, bụng no căng, sau khi làm động
tác cấp cứu kịp thời, cậu ta dần tỉnh lại, mặt còn xanh lét kia kìa!
Tư trang, giấy tờ, trang bị còn ở cả dưới lòng sông. Phải
lấy tạm quần áo của anh em mặc đỡ. Lúc lên bờ mới thấy cái lạnh thấu da, thấu
thịt.
Ôi! Thì ra là vậy! Tôi thật là hồ đồ đã thầm trách nhầm
anh. Tôi thấy mắt cay cay không biết vì xúc động hay ân hận vì phản ứng nông
nổi của mình khi sự việc chưa biết rõ ràng.
Anh đã làm một việc diệu kỳ, vượt qua cái chết nhưng không
quên đứa em, người đồng đội của anh, của chúng tôi. Giá phải như tôi trong
trường hợp này chắc tôi và cậu liên lạc đã đi toong là cái chắc. Tuy ở vùng quê
nhưng tôi không biết bơi, biết lội. Mỗi lần ra ao tập bơi, cả hai tay, hai chân
tôi vẫy đạp tứ tung,
loạn xạ, mà bọn trẻ con chúng tôi thường gọi là kiểu bơi
chó! Tôi chả biết bơi ếch, bơi bướm là gì. Sau này vào chiến trường, tôi có
nghe nói BTL-TG đã trục vớt chiếc xe ấy, cụ thể thế nào tôi không rõ.
Sáng 17/12, tôi nhận được lệnh ngày lên đường nhưng giờ G
chưa xác định, đơn vị được lệnh cấm trại, nay gọi là giới nghiêm.
Ngày 17 và 18/12, anh Sỹ sao lại toàn bộ giấy tờ, sổ sách
của đơn vị, từ hồ sơ lưu trữ của tôi. Anh tâm sự:
- Mọi thứ sổ sách, giấy tờ mình làm lại được, quân tư trang
trung đoàn trang bị lại. Mình chỉ tiếc mấy tấm ảnh của vợ con, gia đình và vài
kỷ vật vẫn còn trong xe chìm dưới đáy sông.
Tôi
vâng, dạ tỏ ra đồng cảm với anh, nhưng thực lòng tôi đâu có hiểu hết tình cảm
của anh. Bởi tôi chỉ có chiếc ba lô, tình cảm với mẹ và gia đình thì ai chẳng
có. Một vài bóng dáng người con gái nào đó mơ hồ, lãng đãng, không rõ nét ở
tuổi trưởng
thành là lẽ bình thường, không nhẹ nhưng cũng
chẳng nặng gì đối với tôi. Làm sao tôi hiểu được cái tình, cái nghĩa vợ chồng,
cha con ở nơi anh. Anh sắp phải xa... xa lắc... xa lơ... chưa hẹn ngày trở lại.
Trưa ngày 18, đại đội 11A của Hồ Tiến tổ chức liên hoan
chia tay với đại đội 11B chúng tôi. Tối đó, trung đoàn tổ chức chiếu phim chiêu
đãi. Chưa xem hết phần phim thời sự, khúc mở đầu mỗi lần xem phim thời ấy, thì
phía Hà Nội rực trời cháy đỏ. Đạn pháo phòng không, tên lửa đan chéo nhau kín
cả trời đêm. Tiếng máy bay gầm rít chói tai, buổi chiếu phim phải huỷ. Tiếng
bom gầm ,đạn réo suốt đêm. Ánh sáng đèn dù, pháo sáng lúc tỏ, lúc mờ, chập chờn
như ma quái. Ánh sáng của thần chết đang gieo rắc khắp nơi.
Sáng hôm sau thức dậy, đất trời vẫn bình yên như đêm qua
chỉ là một cơn ác mộng. Tối qua không mở được đài tiếng nói Việt Nam. Sáng nay
tôi mở đài sớm mới biết Mỹ đánh bom huỷ diệt Hà Nội bằng cả máy bay B52.
Khoảng 8 giờ sáng, tôi nhận được lệnh giờ "G" từ
trung đoàn chuyển xuống, tôi
và anh Sỹ thống nhất phát lệnh sẵn sàng lúc 15 giờ cùng
ngày. Trưa đó, tôi và anh Sỹ ở nhà vì mọi việc chuẩn bị đã hoàn tất. Bữa cơm
trưa cậu liên lạc mang về có mấy món trông ngon mắt. Anh Sỹ
lấy ra bi-đông rượu, không biết anh có từ lúc nào. Rót ra
hai chén, anh nói với một giọng thân tình:
- Ông Hưng à, ban chỉ huy đại đội có tôi và ông, ông chỉ
huy làm tốt công tác bảo đảm kỹ thuật trong hành quân. Tôi và anh em vào thẳng
nơi tập kết trước, sẽ chuẩn bị nơi ăn ở chu đáo chờ đón ông và đồng đội, chúc
thắng lợi nào!
Tôi và anh cụng chén, anh uống ực một cái, phả tiếng
"khà khà, chép chép". Tôi chỉ nhấm môi, xin phép khất anh vì từ trước
tới giờ tôi không uống được rượu. Xin khất anh vào tới chiến trường sẽ cạn chén
cùng anh.
Chiếc đài Orionton mới toanh vừa được trang bị lại đang
phát bản tin. Vừa ăn, chúng tôi vừa nghe phát thanh viên thông báo thắng lợi
giòn giã của quân và dân ta, bắn rơi cả pháo đài bay B52... Rồi sự tàn phá,
chết chóc ở nơi này, nơi kia quanh Hà Nội. Anh uống thêm chén thứ hai, rồi chén
thứ ba để sẵn trên bàn như chờ tôi cùng cạn. Tiếng cô phát thanh viên như nghẹn
lại, khi đọc họ tên những người bị thương, bị chết... tối qua theo thống kê ban
đầu chưa đầy đủ. Bỗng bát cơm trên tay anh để bịch xuống bàn, đôi đũa rơi xuống
mặt bàn, phát ra hai tiếng khô khốc, ghê ghê, rồi lăn xuống nền nhà. Anh ngồi
ngây ra, mắt mở to như trợn trừng rồi từ từ khép hờ lại. Đôi tay anh run run,
đang quờ quạng như tìm kiếm cái gì! Tôi hốt hoảng:
- Anh Sỹ! Anh làm sao vậy?
Tôi vội chạy sang phía anh, anh không trả lời, anh vịn vai
tôi từ từ đứng dậy. Tôi đỡ anh bước ra khỏi ghế, anh tựa vào thành giường rồi
đổ kềnh như cây chuối bị chặt gốc. Đôi giày cô-sư-ghin cũng không kịp tháo ra,
anh lắp bắp chẳng rõ tiếng gì và run run chỉ về phía chiếc đài. Chắc anh nhức
đầu muốn bảo tôi tắt đi, tôi với tay tắt máy.
Anh nằm ngửa, mắt nhắm hờ, tay vẫn nắm chặt tay tôi.
- Anh để tôi gọi y tá.
Anh bóp chặt tay tôi ra ý không cần:
- Tôi đưa anh đi trạm xá cấp cứu nhé!
Anh lại bóp chặt tay tôi, hơi kéo lại, tỏ ý không cần thế.
Anh nắm chặt tay tôi như
không muốn rời ra, không muốn xa tôi, hình như anh sợ mất
tôi, sợ sự trống vắng, cô đơn...?
Tôi không dám rút tay ra, cứ để yên như vậy, nhìn anh thiêm
thiếp. Trong đầu tôi thoảng qua sự lo sợ, rồi nghi ngại... Chả nhẽ anh bị ngộ
độc rượu?... Hay là... Hay là... Ở đâu đó, tôi có nghe nói có người tự gây
thương tích để có cớ "B quay" mà thường là những người có vợ, có con
như anh.
Nhưng anh là một Đảng viên? Một sỹ quan? Một chính trị viên
cơ mà? Chả nhẽ...?
Chả nhẽ...? Mà từ hôm hai anh em được bổ nhiệm đến giờ, anh
cũng như tôi rất tích cực, luôn sát cánh bên nhau chuẩn bị, tổ chức mọi mặt cho
đơn vị, chẳng có biểu hiện gì? Tôi với anh tuy: "đôi bên chức tước, chẳng
kém chi nhau" nhưng tôi luôn coi anh là người anh, là trụ cột của đơn vị.
Anh không chỉ là chính trị viên của đại đội mà còn là chính trị viên của riêng
tôi.
Tôi
hơn anh về mặt chuyên môn, kỹ thuật, còn mọi mặt chỉ huy, tổ chức... đối nhân
xử thế, tôi phải dựa vào anh. Con người đã có cả chục tuổi quân, đã kinh qua
nhiều chức vụ, từ tiểu đội trưởng đi lên. Có bản lĩnh chỉ huy, lãnh đạo hơn hẳn
tôi - một cậu học trò mới ra trường, nhờ được học hành mà nhảy cóc từ binh
nhất, binh nhì, lên thẳng sỹ quan. Vài tháng làm kỹ thuật viên rồi lên thẳng
đại đội trưởng, đâu đã am tường cuộc sống, am tường công tác chỉ huy, lãnh đạo
như anh.
Hay là?... Hay là?... Hay
là anh biết tôi còn ngây ngô, cả tin, dễ giận, anh diễn kịch với tôi. Tới sát
giờ "G" anh mới dở chứng để có cớ "B quay"? Hay chả nhẽ
rượu độc do anh tự pha, tự chế để kiếm cớ thoái lui? Thế thì may cho tôi rồi!
Tôi chỉ mới nhấm môi thấy cay cay thôi. Nếu đúng anh muốn "B quay" , tôi sẽ lấy giấy giới thiệu vào Đảng của tôi,
tự tay tôi gạch tên anh, người giới thiệu thứ hai vào Đảng của tôi ngay trước
mặt anh! Hình như những gì tốt đẹp nhất anh để lại trong tôi hơn hai tháng qua,
những gì tôi ngưỡng mộ và học tập ở anh, hy vọng sự dìu dắt của anh để tôi
trưởng thành đang bắt đầu tan chảy... Tôi đangđắm chìm trong nỗi suy tư, bế tắc
không có câu trả lời trước sự kỳ quặc của anh... Bỗng hai khoé mắt anh chảy dài
hai dòng nước mắt. Hình như anh đang cố nén một cái gì sâu thẳm trong tim? Anh
buông tay tôi rồi ngồi bật dậy, út khăn tay lau mắt. Hình như có gì quá xúc
động với anh chăng? Anh phải lịm đi không nói thành lời. Sau hồi trấn tĩnh, anh
đã trở lại bình thường chăng? cầu trời như vậy! Anh nhìn tôi và nói tôi gọi cậu
liên lạc của tôi cho anh. Anh bảo cậu liên lạc dọn cơm đi, dù bữa cơm chúng tôi
mới và được vài ba miếng. Tôi pha ấm trà mới cho anh, thấy anh thì thầm gì đó
với cậu liên lạc:
- Anh Sỹ à! Anh đã khoẻ chưa? Chỉ còn vài giờ nữa là tới
giờ "G" rồi đó anh!
- Ừ! Nhớ rồi! Tới giờ "N+1" ông phát lệnh cho các
trung đội nhé!
Tôi thấy anh lau bàn rồi cầm chiếc bát ra ngoài đi đâu đó,
một lúc sau anh mang vào lưng bát gạo và
một cái đĩa con không biết để làm gì? Anh diễn trò gì nữa
đây?
Hai chúng tôi ngồi
uống nước, tôi không dám hỏi gì chuyện anh bị xỉu lúc vừa rồi.
Một phần sợ anh khó
trả lời nếu anh định..., phần muốn anh tỉnh táo hẳn mới hỏi rõ nguồn cơn. Thấy
anh tỉnh, tôi đã yên tâm một chút, nhưng vẫn thấp thỏm, không biết anh còn giở
chứng gì không? Giờ "G" sắp tới, tôi đi một vòng xuống các trung đội
dặn dò các trung đội trưởng và thông báo chính thức giờ "G". Lúc quay
về, vừa tới cửa phòng, tôi giật thót mình. Trong đầu tôi muốn hét lên:
"Anh Sỹ! Anh làm cái gì thế này? Anh điên rồi à? Muốn "B quay" thì
nói toạc ra! Anh cúng bái cái gì trước giờ ra trận thế?".
Nhưng may quá, tôi
mới chỉ nghĩ, chưa kịp phát thành lời thì cậu liên lạc của tôi ra giấu để tay
trước miệng: yên lặng! Tôi đứng ngây ra nhìn người chính trị viên xì sụp khấn
vái giữa khói hương nghi ngút với bát nhang bằng bát ăn cơm, một đĩa hoa rừng,
chắc cậu liên lạc của tôi hái vội đâu đó cho anh, ba chén rượu lưng , một phong
lương khô mới bóc. Tôi đứng nhìn anh và nghe anh lầm bầm khấn vái điều gì đó...
Khoảng năm ba phút sau, anh lấy khăn tay lau nước mắt.
Lấy lại bình tĩnh và
chúng tôi cùng ngồi xuống bên bàn, tôi chờ đợi sự giải thích của anh. Anh tợp
một ngụm trà rồi nói với tôi:
- Ông ạ! Tôi bị xúc động đột ngột quá, đau đớn quá, không
nói được thành lời.
Lúc trưa nghe đài, xã Uy Nỗ của tôi bị B52 rải thảm. Trong
số người bị chết có họ tên ông bố vợ tôi, em vợ tôi và mấy người bà con họ tộc.
Không biết vợ con tôi có việc gì không? Miếng cơm vừa và vào miệng thì tắc
nghẹn khi nghe tin dữ... Chắc
ông tưởng tôi bị cảm?... Tôi chỉ chiếc đài ý nói hãy nghe
tin thì ông không hiểu lại tắt đi. Tin đau buồn quá, nhưng giờ "G" đã
đến, không thể về qua nhà được. Tôi thắp mấy nén nhang xin tạ lỗi với nhạc gia
và dòng họ, cầu mong vong linh những người tử nạn tối qua phù hộ cho anh em,
đơn vị mình hoàn thành nhiệm vụ. Đó là cách tốt nhất để trả mối thù này! Ông lo
toan mọi việc nhé, tôi tranh thủ viết mấy dòng gửi lại, may ra vợ con, gia đình
tôi nhận được.
Tôi sững người, đứng dậy ôm chầm lấy anh. Tôi khóc. Khóc vì
xúc động, vì đồng cảm với nỗi đau của anh. Khóc vì ân hận tôi đã nghĩ sai về
anh, về một con người đầy bản lĩnh nhưng rất mực tình người! Tôi khóc để thay
lời xin lỗi anh. Tôi tự trách tôi hồ đồ, nông nổi. Đây là bài học thứ hai, tôi
nhận ra điểm yếu của mình, của người sỹ quan trẻ thường phản ứng nhanh nhưng
thiếu bình tĩnh và chín chắn trước một sự việc bất thường.
Đặng Đức Sỹ! Anh
không chỉ là người anh, người đồng đội, mà còn là người thầy của tôi về cách
đối
nhân xử thế, tính cách chững chạc, điền đạm cần thiết của
người cán bộ.
Như một phản xạ tự nhiên, tôi đến trước bàn thờ đơn xơ mà
anh vừa lập. Chắp tay vái lạy hương hồn những người quá cố, trong đó có người
thân của anh vừa ra đi vĩnh viễn bởi bom đạn kẻ thù... Tôi thông báo và cho mời
các trung đội tới vái vọng, chia sẻ nỗi đau buồn của anh ngay trước giờ ra
trận.
Đúng 19h30, khi những viên đạn lửa phòng không đầu tiên
sáng rực, bay vút lên như xé rách màn đêm, cũng là lúc tôi bắt chặt tay anh, ôm
chặt lấy anh, tiễn anh lên xe dẫn quân vào tuyến lửa. Chúng tôi hẹn đón nhau ở
chiến trường.
Bộ phận của tôi đi sau cùng, 21h30 chúng tôi mới có lệnh
xuất phát.
Thời gian này Mỹ tập trung vào Hà Nội nên trên đường đi
vắng bóng máy bay của không lực Hoa Kỳ. Chúng tôi đi khá nhanh và an toàn. Qua
đất bạn Lào, bắt đầu gặp máy bay của không lực Sài Gòn, đã đôi lần chúng chao
lượn trên đầu nhưng không ác liệt như không quân Mỹ. Đã vài lần tôi nghe tiếng
bom rền nhưng không rõ từ đâu. Đêm đêm có nghe tiếng máy bay mà anh em binh
trạm nói là C-130 đi tuần tiễu, lâu lâu có tiếng súng: "Cắc-thùng!
Cắc-thùng!..." như tiếng trống cầm canh từ máy bay bắn xuống.
Rồi một ngày cuối tháng 1/1973, tôi nhận được tin dữ: bộ
phận C11-B bị tập kích bom bi, anh Sỹ và vài chiến sỹ của tôi bị thương phải
vào bệnh viện, anh Sỹ bị khá nặng. Khi vào tới căn cứ, tôi hỏi Nguyện, cậu liên
lạc của anh. Nguyện chỉ biết anh bị thương nặng khi vào viện và không biết gì
hơn vì phải tiếp tục hành quân. Thế là đại đội tôi mất người cán bộ năng nổ,
tận tâm, dày dạn kinh nghiệm chỉ huy, tổ chức. Tôi thấy hụt hẫng khi thiếu anh,
thiếu một chỗ dựa tinh thần. Tai hoạ chết người, nỗi đau mất mát quá lớn liên
tiếp đến với anh nhưng vẫn không cản được bước chân người sỹ quan can trường và
mẫu mực. Nhưng hòn tên, mũi đạn đã bắt anh phải bỏ dở cuộc hành quân cùng chúng
tôi đến ngày toàn thắng. Sau hoà bình, những lần ra hội họp ở BTL-TG, tôi hỏi
thăm nhưng không ai biết anh ở đâu? Đã về đâu?... Qua dòng hồi ức về anh, nếu anh còn,
anh hãy liên lạc với tôi qua điện thoại. Tôi xin được cạn nốt chén rượu nghĩa
tình với anh mà hơn bốn mươi năm trước, thời trai trẻ tôi còn khất nợ anh, dù
bây giờ tôi vẫn không uống được rượu.
Nếu con cháu anh đọc được những dòng hồi ức của tôi viết về
anh, các cháu có quyền tự hào về một người cha, người ông đã có "một thời
như thế đó". Đó là cái thời của thế hệ chúng tôi, và nhiều thế hệ đã có
một thời như thế và phải như thế đó!
Dẫu sao họ tên anh vẫn hiển hiện trong lý lịch Đảng của
tôi: Người giới thiệu thứ hai: chính
trị viên đại đội - thiếu uý - Đặng Đức Sỹ. Vẫn còn đây!
-
-
Đỗ Thành Hưng
B5-C213Sài gòn, 19/11/2013 Đt:
0908106399
PHẦN
KẾT-GẶP LẠI BẠN BÈ
Vào tới chiến
trường, tôi tiếp tục làm đại đội trưởng đại đội sửa chữa tăng thiết giáp của
đoàn thiết giáp Đông Nam bộ, phiên hiệu là M26. Ngày 15/9/1973, tôi được chuyển
Đảng chính thức. Nhiệm kỳ 1974, tôi được chi bộ bầu vào cấp uỷ. Nhiệm kì 1975,
tôi được tái cử cấp uỷ, kiêm phó bí thư chi bộ. *******
______________ Sau
ngày 30/4/1975, có điều kiện, tôi nháo nhác tìm lại bạn bè và gặp được Huỳnh
Quang Tự, anh Thể (lớp chuyên tu), anh Lương Văn Cao, Lê Tùng Sơn, Trần Phượng
và nhiều anh khác.
Một ngày tháng 6/1975, Lê Công Sơn đột ngột xuất hiện sừng
sững trước mặt tôi. Tôi còn đang ngỡ ngàng về cuộc hội ngộ này thì hắn vồ lấy
tay tôi bóp thật mạnh. Tôi hơi nhăn mặt mà không dám kêu đau. Hắn chẳng cần thủ
tục xã giao thông thường, không thèm hỏi thăm sức khoẻ tôi ra sao? Có thương
tật gì không? Miệng hắn nở nụ cười hết cỡ, mắt mở to nhìn thẳng vào mặt tôi nói
như quát:
Mày đã là cấp uỷ, bí thư chi bộ rồi phải
không? Tôi không trả lời thẳng vào câu hỏi của hắn, tôi cười pha chút sượng
sùng như người biết lỗi và trả lời Sơn như tâm sự: - Ngày ra trường, tao biết
mày có ý giận tao về việc phấn đấu, tao cũng mặc cảm vì thua kém mày, chứ biết
sau ba năm tao cũng là cấp uỷ, phó bí thư chi bộ thì tao đã nhờ mày bắn tin để
tao ngỏ lời với em gái mày từ ngày ấy. Bây giờ thì muộn rồi phải không Sơn? Sơn
xúc động, giọng chùng xuống chậm rãi:
- Ừ... muộn mất rồi!
Chúng tôi ôm chặt lấy nhau hồi lâu. Trong lòng tôi dâng
trào cảm xúc vui buồn. Nói ra được điều thầm kín mình ôm ấp bấy lâu với Sơn,
tôi thấy lòng mình nhẹ đi dù là quá muộn.
Lê Công Sơn, một thằng bạn chân thành, dù xa nhau nhưng
luôn quan tâm theo dõi sự trưởng thành, tiến bộ của tôi. Giá như... giá như
ngày đó tôi nghe và theo gương Sơn phấn đấu tốt hơn, có khi tôi và Sơn giờ đây,
ngoài tình bạn còn có tình thân thiết khác ./.
|
Đỗ Thành Hưng B5-C213Sài gòn,
|
Nguyễn Thanh Sơn
HỒI KÝ
Lũ bạn trẻ cùng trang lứa thoáng chốc đã về
già. Tuối già hay nhớ về quá khứ
về bạn bè xưa. Tôi tặng bạn câu chuyện tôi viết tết Nhâm Thìn 2012, có hình ảnh
của bạn trong đó. Giờ lại sắp tết Ất Mùi 2015 rồi!
01.1.2015 N Sơn
CHUYỆN DÔNG DÀI NGÀY TẾT
Cái anh tết Nhâm Thìn – 2012
này, được nghỉ dài ngày thật. Trước giao thừa được nghỉ 2 ngày, trùng với thứ
bảy, chủ nhật, sau giao thừa được nghỉ 3 ngày: thứ 2, thứ 3, thứ 4 vậy là 5
ngày. Do trùng với 2 ngày được nghỉ thứ 7, chủ nhật nên được nghỉ bù vào 2 ngày
tiếp theo là thứ 5, thứ 6 vậy là được nghỉ 7 ngày. Sau 2 ngày nghỉ bù đó lại là
thứ 7, chủ nhật – được nghỉ, lại nghỉ - vậy là cái anh tết Nhâm Thìn này được
nghỉ tổng cộng 9 ngày, dài quá.
Được nghỉ càng
dài ngày càng tốt chứ sao? Kêu dài, là dài ngày so với Tết Quý Hợi – 1983 được nghỉ có một ngày rưỡi, trước giao thừa
được nghỉ nửa ngày, tức là được nghỉ bắt đầu từ chiều 30 tết. Nhớ tới ngày tết
đó: Sau buổi sáng vẫn làm việc, chiều bắt đầu được nghỉ. Mọi người nháo nhào về
nhà, người thì đi xếp hàng mua hàng tết theo tem phiếu: Một ít bóng miến, một
ít lá dong, 2 bao thuốc lá Tam Đảo, một gói chè Hồng Đào…người thì vội lau dọn
nhà cửa, cắm lọ hoa, cành đào… rồi thì tắm rửa, chưng diện những bộ quần
áo đẹp nhất…rồi thì giao thừa…Hôm sau, mồng 1 tết được nghỉ, người ta còn ngủ
rốn tới khoảng 8h sáng - Trước lúc đó ai mà có dịp ra phố mới thấy thủ đô mới
thanh bình, trinh nguyên ra sao, ôi những khoảng khắc thanh thản đến tuyệt vời!
Rồi người dân đổ ra đầy đường, mồng 1 lễ cha, mồng 2 lễ mẹ, mồng 3 lễ thày dồn
tất cả vào buối chiều. Khuôn mặt người dân sáng ngời hạnh phúc, gầy nhưng không
yếu, nghèo nhưng không hèn. Họ chúc tụng nhau đầu năm đẻ con trai cuối năm đẻ
con gái…rồi sáng sau, mồng 2 tết lại đi làm. Nghỉ ít thôi, tranh thủ thời gian
mà làm, có làm nhiều mới ra nhiều sản phầm cho xã hội, mới đỡ khổ - đúng quá đi
chứ - các vị lãnh đạo nghĩ vậy, và họ phát động người dân: Mỗi người làm việc
bằng hai.
Có người tranh luận với tôi: Là cái tết chỉ được
nghỉ có một ngày rưỡi đó là tết năm 1985?
Ôi quan trọng gì, tôi có phải
là người viết lịch sử đâu, tuổi già nhớ nhớ quên quên, chỉ biết là đã có một
thời như vậy.
Song như vậy còn là sướng lắm. Còn gọi
là được nghỉ tết, còn có gia đình, chứ hồi ở chiến trường có được
nghỉ tết đâu, ngày tết là nỗi nhớ nhà, anh em đồng đội quây quần bên nhau. Và
ngay ngày chủ nhật cũng làm gì được nghỉ, nên chúng tôi gọi là ngày thứ 8.
Cái tết
Quý Mão - 1963 tôi 15 tuổi, cùng lũ bạn học chúng tôi kéo nhau lên bờ hồ Hoàn
Kiếm đón giao thừa. Ngày đó tết ở Hà Nội là phải lên bờ hồ Hoàn Kiếm đón giao
thừa mới gọi là tết. Tết lạnh, ăn mặc phong phanh, song phải có pháo. Tiếng
pháo nổ xóa tan nỗi cô đơn nghèo nàn, gắn kết mọi người lại với nhau. Bấy giờ
hai bên phố Hàng Bài bắt đầu từ quá rạp Tháng 8, là mấy khu tập thể có tường
lửng vây quanh trên là chấn song, họ ngồi bên trong bán pháo. Mọi người thò tay
qua chấn song đó mua pháo, 1 hào 2 quả pháo tép, 2 hào một quả pháo đùng loại
nhỏ. Còn pháo đùng loại 5 hào là to lắm, khi đốt, mọi người vừa bịt tai, vừa
chạy dạt ra. Lạ thế đấy, sợ song vẫn thích.
Bấy
giờ bố tôi mới đi công tác CHDC Đức về, ông cho tôi hộp pháo hoa. Mà lạ, pháo
gì mà chỉ như đoạn nan hoa xe đạp, dài chỉ khoảng 10 phân? Để dành mãi, để tối
giao thừa ra bờ hồ đốt. Đẹp thật, nó bắn tung tóe ra chung quanh, sáng
vàng rực rỡ. Thằng Tâm cầm chạy, mọi người kêu: Cháy, cháy! Chúng tôi vô cùng
thích thú.
Quanh
bờ hồ dày đặc người là người, người đi tới - có gì mà tới? Người đi lui - có gì
mà lui? Song họ vẫn đi, bao năm rồi họ vẫn đi như vậy, tết mà, ra bờ hồ mà đi.
Mấy
thằng học sinh chúng tôi đi tới phía bên kia bờ hồ, chỗ mà bây giờ là cổng siêu
thị Intimex ấy, thấy hai thằng nhỏ cỡ tuổi bọn tôi, lễ mễ bưng ra một quả pháo
cối to bằng cái phích nước sôi. Chúng nó đặt ngay quả pháo dưới lòng đường
nhựa, châm lửa đốt! Ối trời ơi, riêng đoạn dây cháy chậm đã to như đoạn dây
thừng buộc trâu, dài cỡ 1m, có lẽ phải đủ dài cho chúng nó còn kịp chạy. Vậy là
không ai bảo ai tất cả lùi lại, thành một khoảng rộng, mấy cô gái hét lên sợ
hãi. Còn bọn con trai chúng tôi, cũng lùi song không quá xa để mang tiếng là
nhát, bụng vẫn bảo dạ là liệu có sao không nhỉ. Đúng là dây cháy chậm thủ công,
cháy đùng đùng rồi lại leo lét, rồi lại cháy đùng đùng…ngọn lửa đã leo tới
miệng quả pháo…có lẽ sau tiếng nổ này, trái đất sẽ ngừng quay?- Đẹt! té ra là
một quả pháo tép. Bấy giờ mọi người phá lên cười lên vui vẻ. Hai thằng nhỏ nhô
từ sau gốc cây ra lấy lại quả pháo, có lẽ nó lại đi nghịch ở nơi khác, đúng là
nhất quỷ nhì ma…
Tiếng
loa phóng thanh treo khắp quanh hồ phát ra tiếng chuông điểm nhịp thời gian:
Boong -12 giờ rồi, giao thừa rồi! Pháo nổ trong loa phóng thanh,
khắp
bờ hồ đốt pháo. Hàng Ngang, hàng Đào đốt pháo, phố nhà giàu có khác, có
những dây pháo dài từ tầng hai xuống chạm đất. Hòa trong tiếng nổ lẹt đẹt vội
vã của pháo tép, lại xen lẫn tiếng nổ đùng của pháo cối.
Bỗng
từ loa phóng thanh phát ra câu nói ấm áp: Đồng bào và chiến sĩ cả nước yêu
quý…
Ôi,
tiếng bác Hồ, bác Hồ chúc tết! vậy là không ai bảo ai, tất cả đứng im phăng
phắc, thành kính đón nghe tiếng bác Hồ chúc tết, cả bờ hồ đông đúc náo nhiệt
như vậy, mà giờ đây im lặng như nghe thấy cả tiếng lá rơi.(Cho mãi tới sau
này khi đã ở lứa tuổi tri thiên mệnh, tôi vẫn nghĩ đến hiện tượng này: Đó là
lòng thành kính, như một tín ngưỡng tâm linh… và tôi hiểu, thế nào là lãnh tụ!).Lúc
vui nhất là lúc nên về nhất, tất nhiên, mọi người ra về mấy đứa học sinh chúng
tôi cũng về. Dọc đường đi thì rơi rụng dần, tới Lê văn Hưu thì Cảnh về, Hoạt về
Phùng khắc Khoan, Thích về tập thể nhà rượu…còn lại một mình, song tôi chưa vào
nhà, ngồi mãi nơi vỉa hè…
Tết
này tôi 15 tuổi, tôi không thích người ta gọi là trẻ con nữa, mà ở thời kỳ đó
đã bắt đầu gọi là thanh niên. Rồi 25 tuổi, liệu lúc đó tôi đã lấy vợ chưa nhỉ,
xấu hổ quá…Rồi 45,55 già vậy ư? Già hơn cả chú Có, chú Tiếp à? Rồi 65, ôi trời
ơi, già hơn cả bố tôi bây giờ sao? Vậy thì lúc đó bố tôi ở đâu? Tôi không dám
nghĩ tiếp, và tôi…làm thơ:
Đì đùng pháo nhỏ nổ cùng to,
Hương pháo tung bay khắp
mọi nhà.
Tết đến, xuân về, xuân
lại lại,
Có thấu lòng người khi lại một xuân qua?
15 tuổi,
đúng là ông cụ non.
Học
trên tôi mấy lớp có anh Bùi Minh Quốc, bấy giờ thơ anh đã nổi tiếng lắm rồi:
Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy,
Thì xa xôi gấp mấy cũng lên đường.
Sống ở thủ đô mà dạ để mười phương,
Ngàn
khát vọng chất chồng mơ ước lớn!
Ôi,
lên đường - Đi! (đi đâu?) Hướng đời đã thấy (hướng đời là cái gì?
Thấy, thấy cái gì?) chả biết, cứ đi đã! ( Nàng
thơ như một cô gái đẹp kiêu sa, vẫy gọi đấy mà mơ hồ đấy, làm cả đời lận đận
chạy theo - Cái tuổi trẻ, bao giờ cũng là tuổi trẻ, tội nghiệp!)
Tiếc là bây giờ
không được đốt pháo nữa, trong cái được cũng có cái mất, còn lại là lòng hoài
niệm.
Tôi đã đi
bộ đội, cái tết Quý Sửu -1973, lúc đó tôi là đại đội trưởng của một tiểu đoàn
anh hùng bộ đội Trường Sơn. Đơn vị tôi lúc đó đóng ở ngã 3 Lùm Bùm, mút đường
phía bên kia đường 20 Quyết Thắng. Tôi 25 tuổi rồi, đâu còn là một cậu học sinh
măng tơ nữa. Rừng Trường Sơn gian khổ và chiến tranh ác liệt đã biến tôi thành
con người khác: Khuôn mặt xương xương, da thâm tái vì sốt rét, mặc quần áo bộ
đội đã bạc màu…may là trong huyết quản còn chảy bầu máu nóng.
Bom
đạn địch đánh ác liệt, những nỗ lực cuối cùng của kẻ địch hòng ngăn chặn tuyến
chi viện chiến lược, và vì vậy chúng tôi luôn căng thẳng như sợi dây đàn. Tôi
luôn mang theo một khẩu tiểu liên AK báng gấp, ở mặt trận mà mang súng ngắn thì
như mang trò chơi vậy. Bị đánh tắc đường, nổ 3 phát. Có thương binh, nổ 4 phát.
Có tử sỹ, nổ 5 phát! Thành quy ước rồi, lính công binh không biết từ đâu đội
đất chui lên cứu chúng tôi.
Đi lên tiểu đoàn giao ban, bao
giờ tôi cũng gặp anh Cau đứng đợi đầu dốc. Cau là chính trị viên đại đội 1, anh
ấy có cái đài National 3 băng, và khi gặp tôi Cau đều sôi nổi kể tin tức thời
sự mà đêm qua anh ấy nghe được, bấy giờ chúng tôi quan tâm nhất tới hiệp định
Pari về ngừng bắn ở Lào.
Hiệp
định Pari được kí kết, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 27.1.1973, thì chập tối
26.1.1973 anh Cau hy sinh trên đèo Văng Mu, trong một trận đánh phá cuối cùng
của máy bay địch, cái đài National cũng không còn nữa. ( Biết bao người hy sinh trước giờ
chiến thắng! 40 năm đã
trôi qua, mà tôi chưa qua nhà thắp cho anh Cau một nén hương, mà cũng chả biết
nhà anh Cau ở đâu, đất Vĩnh phúc thì rộng lắm. Bây giờ nhà cao cửa rộng liệu
còn ai nhớ đến anh Cau?)
Cái
đêm giao thừa ấy, rơi vào đêm 2.2.1973, yên tĩnh đến lạ thường, tôi và anh
Chiu, chính trị viên đại đội đi kiểm tra bãi xe: Bảo anh em nghỉ sớm một tí,
đêm nay giao thừa rồi.
Có lẽ không nên
kể qúa tỉ mỉ cái tết ở chiến trường, cũng có lọ hoa - hoa rừng, chả nhớ là hoa
gì, cứ đỏ đỏ vàng vàng là được. Cũng có kẹo - kẹo anh em tự chế bằng sữa bột
trộn với lương khô, đun sôi rồi cho nhỏ xuống nước lạnh vón lại thành những
viên tròn tròn, kiếm giấy màu vê lại bày lên đĩa thành kẹo tết…Và ở đâu cũng
vậy, cái hầm của ban chỉ huy đại đội thành thủ đô, giống như bờ hồ Hoàn Kiếm
đêm giao thừa vây. Lính tráng kéo đến, leo lên ngồi chật giường, tựa lưng vào
vách đất nghe đài. Góc kia thì đánh “Tiến lên”ồn ào…Bên trong cái vẻ tỏ ra là
ồn ào ấy, là một nỗi buồn xa gia đình, một nỗi bâng khuâng ngày tết của các
chàng lính trẻ. Lúc ấy chúng tôi trẻ lắm, tôi thiếu úy đại đội trưởng, 25 tuổi.
Anh Chiu thượng sỹ chính trị viên, 29 tuổi. Anh Luyện thượng sỹ, đai đội phó người Hải phòng, 28 tuổi.Trong chiến
trường chả ai đeo quân hàm, vớ vẩn, song vô cùng dũng cảm và tận tuỵ vượt mọi
khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Hơn 80% cán bộ đại đội – đại đội cao xạ, đại đội
công binh, đại đội xe, đại đội giao liên…là thượng sĩ, anh Cau cũng vậy, lác
đác có anh chuẩn úy, thiếu úy. Tôi dám cá là thiếu tá sau này không hơn anh
thượng sỹ chúng tôi hồi ấy, có hơn là chỉ lương cao hơn thôi. Cấp trên “chặt
chẽ” quá, đành rằng hy sinh tất cả vì độc lập tự do…
Hơn 11 giờ đêm rồi, căn
hầm tôi nồng nặc khói thuốc, ngày tết hậu cần cấp cho mỗi người một bao Tam
Đảo, hút đến đau cả ngực, mệt mỏi.
Anh Khoa xuống, chả nói chả
rằng kiếm cái điếu cày, và bắt đầu sọc sọc…Năm đó anh Khoa đã 46 tuổi là xã
viên hợp tác xã nông nghiệp ở Vĩnh Bảo Hải Phòng được động viên đi bộ đội, vào
chiến trường anh làm chiến sỹ nuôi quân đại đội tôi. Già rồi nuôi quân càng
tốt, để rút chiến sỹ trẻ ra đi chiến đấu. Chả phải nói, cả đại đội ai cũng kính
trọng anh, cái tuổi bậc cha bậc chú ấy, lại tính tình điềm tĩnh.
Buông
điếu cày, anh Khoa nói nhát gừng: Báo cáo đại đôi trưởng…không chỉ tôi, mà tất
cả đều lắng nghe xem anh Khoa nói gì:…rồi anh Khoa lại nâng điếu cày lên, lại
sọc sọc…: Đề nghị đại đội trưởng cử cho tôi 3 người, ra bìa rừng…cùng tôi…kéo
con nai về đây.
Tôi
hỏi lại :
-
Có thật không đấy?
Tôi
không ngờ là anh Khoa lại phản ứng:
- Tôi ngần này
tuổi rồi, mà còn nói đùa à?
Vậy là chả ai
bảo ai, mà cũng chả phải phân công cắt cử gì, tất cả ùa ra khỏi hầm ban chỉ
huy, họ chạy về “nhà” xách súng đi săn.
Tôi ngủ rất say, chừng 7h30 thì tỉnh giấc.
Yên
tĩnh đến lạ thường, mọi khi tầm giờ này thì máy bay trinh sát OV.10 đã oo trên
đầu, tiếng ô tô gầm rú leo dốc, không có cả đến tiếng người. Tiếng OV.10 ấy, oo
từ sáng tới tối, từ ngày này sang ngày khác như có con ve trong tại rất khó
chịu, giờ không có nó lại thấy chống chếnh? lạ thế đấy.
Có
lẽ mọi người cho rằng tôi sẽ tả cái buổi sáng mồng một tết Quý Sửu này, nó
thanh bình đến nỗi chỉ có tiếng chim kêu, vượn hú, tiếng suối róc rách? Không
có đâu, rét quá, im lặng quá.
Tôi
leo ra khỏi hầm nhìn quanh, lính tráng đâu cả rồi? Ối trời ơi, mấy con nai nằm
ngang ngửa trên khoảnh đất trước hầm ban chỉ huy, 4 con cả thảy, nằm như những
con bò.
Tôi
vội gọi:
-
Anh Chiu ơi, anh lên mà xem này.
Chiu
thò đầu lên, dụi mắt:
-
Gì thế? Và cũng ngạc nhiên:
-Ừ
nhỉ, làm thế nào bây giờ?
Anh em đi săn
suốt đêm về, ngủ say:
-Thì cứ báo hậu cần tiểu đoàn, báo các đơn vị đến lấy thịt nai về ăn tết!
Có lẽ chúng tôi
là những người đầu tiên được sống cuộc sống của chủ nghĩa cộng sản, không gì là
của riêng ai cả, mà cùng vui với thành quả săn bắn hái lượm. Các đơn vị cử
người và xe đến chở nai về ăn tết, đơn vị chúng tôi chỉ giữ lại một con, ồn ào
vậy mà anh em vẫn ngủ.
10
giờ sáng thì anh em dậy cả, vừa tíu tít làm bữa cỗ đầu năm, vừa say sưa kể về
chiến tích đi săn đêm qua. Nhà nào (tức hầm nào) tự làm lấy cỗ của mình. Riêng
ban chỉ huy, y tá, liên lạc, tổ nuôi quân tất nhiên là cả anh Khoa rồi, làm một
cỗ. Chúng tôi sắp củi trước cửa hầm, đốt lên như lửa trại. Anh Khoa bắc lên cái
chảo quân dụng, đục cả thùng mỡ 9,9 kg đổ vào (sau này tôi vẫn thắc mắc là
sao lại làm 9,9kg mà không làm 10 kg cho chẵn?). Tôi điện mời anh Giáo tiểu
đoàn phó, thì anh Giáo kêu: Cũng đang chết dở với thịt nai của ông đây!
(Kể
thêm một tí cho vui, chuyện dông dài ngày tết mà: Anh Giáo là người dân tộc
mường song khôn ngoan lắm, nên tôi hay trêu là Giáo C. Vì máy bay ném bom chiến
lược B.52 mà cải tiến thành B.52C nó ghê gớm lắm, người dân tộc mà còn kinh hơn
người Kinh! Mới một tháng trước, anh Giáo bị bắn: Anh ấy đi săn ngay sau tiểu
đoàn bộ, vừa từ hố bom leo lên thì bị bắn. Do cậu Tài cơ công cũng đi săn, thấy
đèn đội đầu lại tưởng mắt nai(!) May mà viên đạn trúng vào khe nách, khẩu súng
mà anh Giáo đang kẹp nách bị vỡ báng, bị thương nhẹ song được một phen hoảng
hồn, nên tôi mời mà anh Giáo không nhiệt tình là phải.)Tôi ngồi bên cái đùi
nai, đã được anh Khoa rạch tách da, lộ ra một tảng thịt đỏ au còn hấp dẫn hơn
cả thịt bò. Anh Khoa cắt ra một miếng lớn, thái thái, rồi hất cả vào chảo mỡ.
Cũng rất nhanh, anh Khoa cầm đũa vớt ra, đặt từng miếng vào mỗi bát chúng tôi,
ân cần bảo: Ăn đi.
Cỗ tết
thì phải nói tới rượu, có thể nói người nông dân Việt Nam ở bất cứ đâu, đẻ ra
là đã biết nấu rượu. Huống hồ gì chúng tôi là người khắp các miền quê lại có
phương tiện kĩ thuật trong tay: nồi chưng cất, ống ruột gà…tự làm ra hết. Cái
khó là men, thì chúng tôi đã có men lá đổi cho người Lào, men lá thì rất được
rượu, có điều uống xong thì rất nhức đầu. Kệ!
Gắp
một miếng thịt nai còn nóng hổi, chấm vào bát muối trộn mì chính (tiếc là ở
chiến trường không có chanh) cho vào miệng nhai nhồm nhoàm, lại tớp một hụm
rượu: Ngon!
Lịêu
tổng thống Mỹ có sướng hơn tôi lúc này không?
Chúng tôi ngả
nghiêng, trời đất ngả nghiêng…40 năm rồi, tôi còn ngả nghiêng.
Một tháng sau, cả đơn vị tôi được điều vào tăng cường cho trung đoàn 98 công
binh, riêng tôi bị giữ lại. Anh Luyện được giao thay tôi làm đại đội trưởng,
tôi được bổ nhiệm trưởng ban kỹ thuật. Từ đó tôi không gặp lại anh Khoa, anh
Chiu và mọi người nữa… Cái anh tết Nhâm Thìn-2012 này dài quá, nghỉ những
9 ngày. Bây giờ mỗi tuần được nghỉ hai ngày: thứ 7, Chủ nhật như Tây, lại tết
nghỉ những 9 ngày, chứ không như hồi năm 1983 tết được nghỉ có một ngày rưỡi.
Vậy mà xã hội đầy hàng hóa, mua gì cũng có, chỉ sợ không có tiền, lạ thế đấy. Té ra để có nhiều sản phẩm, không phải là ở
làm nhiều, mà là ở cách làm.Nghỉ 9 ngày song tôi không đi đâu cả, đi
chơi thì phải có tiền, cái anh thương phế binh như tôi thì lấy tiền đâu mà đi
du lịch? Vì vậy mà tôi ngồi viết, hy vọng trong tràng giang đại hải này, con
cháu nó nhặt được cái vẩy vàng: Bài học cuộc sống.
Lạ thế đấy, hồi ở chiến trường xa quê
hương, xa gia đình mà chúng tôi thấy ấm áp. Mà giờ đây, ở giữa đô thị, ở giữa
mọi người mà sao tôi thấy lẻ loi?
Tôi lại
nghĩ tới câu thơ Bút Tre mà tôi tâm đắc. Đừng nghĩ là tôi thích vớ vẩn,
tôi biết là nhà thơ nổi tiếng Trần Đăng Khoa đã chê: Bút Tre không phải là thơ,
một loại hò vè gì đó… Không sao, tôi thích là được, và liệu có ai hiểu được là
vì sao tôi tâm đắc không?
Thi đua ta quyết thi đua
Thi đua ta
quyết vươn lên hàng
đầu,
Hàng đầu chả biết đi đâu
Đi đâu chả
biết, hàng đầu cứ đi!(?)
Cũng nói đôi điều
về Bút Tre để tri ân ông ấy: ông tên thật là Đặng Văn Đăng nguyên trưởng ty văn
hóa (bây giờ gọi là giám đốc sở) tỉnh Phú Thọ những năm 60, và chính ông ấy là
người ghi lại câu nói nổi tiếng của bác Hồ:
”Các vua Hùng đã có công dựng nước/ Bác
cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
NHỚ VỀ TRƯỜNG XƯA
Sài Gòn Summer 2014 nhớ đến
ngày về Trường
Mùa hè năm nay vào tiết trời tháng 7 , Sài Gòn mưa nắng thất thường và
những cơn mưa có khi kéo dài cả giờ đồng hồ cùng theo nước triều cường từ biển
nên không tránh khỏi nhiều đường phố ngập nước , nhất là nơi chỗ tôi _ Thủ Đức
. Tuy thế , có thể nóng nực nhưng nơi
đây về đêm vẫn cần một chiếc chăn mỏng sẽ dễ chịu hơn khi ngủ .
Lần gnày, chúng tôi gặp nhau
được đông hơn . Mỗi người tuy tuổi cao nhưng còn nhiều công việc đang làm ;
bởi thế lần này chỉ họp nhau được 6 , 7 người . Thế thôi nhưng chúng tôi sống
lại cả một thời gian khó và sôi nổi dưới mái trường Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự
V.N ., và tôi lại nhớ về những ngày tựu trường khi mới thànnh lập.
Chúng
tôi tựu trường trong các điều kiện rất khác nhau , Người thì từ Quân chủng
Không quân , người thì từ Quân chủng Hải Quân , người thì từ Trường Phổ Thông
Trung học của Quân đội __ Trường Nguyễn Văn Trỗi __ Khóa 1 , người thì từ Công
binh , người thì từ Pháo binh …
Tôi và Nguyễn Tuấn , Nguyễn Nước ,Vũ Huân từ quân chủng Hải quân . Tôi còn nhớ mãi những năm tháng Hải Quân và ngày về trường của chúng tôi .chúng tôi từ X 48 , X46 đưa về trường .
Tôi còn nhớ , : Vào một sớm mùa hè cách đây đã 48 năm . chừng nửa buổi sáng , tôi đang trên rừng tìm kiếm tre nứa về làm doanh trại và ngụy trang máy móc đang để ngoài trời cũng như những mái tôn nhà xưởng dựng dưới chân núi ven bờ Hạ Long nép mình vào dẫy núi Quang Hanh thì được Liên lạc của Khu vực gọi về gặp Thủ trưởng . Thế là , ngay trưa đó cơm trưa xong ,chúng tôi nhờ xe vận tải về Bãi Cháy và chiều thì nhờ chuyến Tầu Tuần la về Hải Phòng ,chúng tôi về trạm đón tiếp của Quân chủng bên Thủy Nguyên – nơi sơ tán .
Vài hôm sau chúng tôi lại có mặt ở Bãi Phúc Xá – Hà Nội Khu vực của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã bỏ trồng để đi sơ tán đâu đó . Dừng chân ở đây tôi nhớ có đoàn Hải quân của chúng tôi và lác đác vài đoàn khác , rồi dừng chân chưa đến 1 tuần lễ chúng tôi lại hành quân về Ngải Dương __ Hưng Yên , cách Ga Như Quỳnh mấy thôi đường đường làng . Bấy giờ tôi cùng Tiểu đội với Đỗ Thành Hưng đang ngồi đây , Nguyễn Đình Thắng từ Trường N.V.Trỗi , cùng Nuyễn Văn Tân Hải Quân X 46 …
Ở Ngải Dương , chúng tôi được ôn tập và kiểm tra văn hóa . Đợt kiểm tra đầu tiên , ai không đạt yêu cầu thì được học trọn một ngày không phải lao động xây dựng trường lớp hoặc giúp dân ;còn ai đạt được yêu cầu thì được ôn tập nửa ngày . Rồi, kiểm tra lại chính thức trước khi Khai giảng năm học .
Đoàn Hải Quân chúng tôi có Trinh không đủ điểm để theo học , nhưng Trường cho lựa chọn : hoặc về đơn vị hoặc vẫn theo học và cố gắng theo kịp đồng đội ; bấy giờ _Khóa 1 không có khóa Dự bị như các khóa sau _Dự bị tại trường, nhưng Trinh chọn con đường quay về đơn vị cũ . Bởi vì khóa của chúng tôi đều được tuyển chọn từ các Quân , Binh chủng khắp toàn quân về học khóa đầu tiên mang tên Trường Đại học Kỹ Thuật Quân Sự V.N ( Thuở khai sinh ,gọi là Phân hiệu 2 Đại Học Bách khoa Hà nội , có 2 khóa chuyển tiếp và họ ra trường trước chúng tôi 2 năm và nhận bằng tốt nghiệp của Bách khoa H N ) Thấm thoát đã 48 năm từ ngày về trường nay 5 , 6 chúng tôi mỗi người một một khác nhau trong nhiệm vụ sau khi ra trường và rồi đều đi trọn cuộc kháng chiến hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước ; nay mỗi người lại vẫn tiếp tục những ngày nghỉ hưu cũng khác nhau , người thì trở thành Kịch Tác gia , người thì trở thành Võ Sư YOGA ngườn thì thành chủ trang trại vẫn cầm vô lăng ô-tô riêng , người là những giảng viên Trường Đại học , người là Cán bộ Khoa học . .. Ngồi bên mâm cơm trong khách sạn Sài Gòn chúng tôi không khỏi bùi ngùi khi nhớ và nói đến các Đồng Đội đã ra đi vì bệnh tật và tuổi tác đã từng trải trên dọc đường Trường Sơn hoặc trên Đất Bắc dầy đạc đạn bom khốc liệt .
Tôi và Nguyễn Tuấn , Nguyễn Nước ,Vũ Huân từ quân chủng Hải quân . Tôi còn nhớ mãi những năm tháng Hải Quân và ngày về trường của chúng tôi .chúng tôi từ X 48 , X46 đưa về trường .
Tôi còn nhớ , : Vào một sớm mùa hè cách đây đã 48 năm . chừng nửa buổi sáng , tôi đang trên rừng tìm kiếm tre nứa về làm doanh trại và ngụy trang máy móc đang để ngoài trời cũng như những mái tôn nhà xưởng dựng dưới chân núi ven bờ Hạ Long nép mình vào dẫy núi Quang Hanh thì được Liên lạc của Khu vực gọi về gặp Thủ trưởng . Thế là , ngay trưa đó cơm trưa xong ,chúng tôi nhờ xe vận tải về Bãi Cháy và chiều thì nhờ chuyến Tầu Tuần la về Hải Phòng ,chúng tôi về trạm đón tiếp của Quân chủng bên Thủy Nguyên – nơi sơ tán .
Vài hôm sau chúng tôi lại có mặt ở Bãi Phúc Xá – Hà Nội Khu vực của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã bỏ trồng để đi sơ tán đâu đó . Dừng chân ở đây tôi nhớ có đoàn Hải quân của chúng tôi và lác đác vài đoàn khác , rồi dừng chân chưa đến 1 tuần lễ chúng tôi lại hành quân về Ngải Dương __ Hưng Yên , cách Ga Như Quỳnh mấy thôi đường đường làng . Bấy giờ tôi cùng Tiểu đội với Đỗ Thành Hưng đang ngồi đây , Nguyễn Đình Thắng từ Trường N.V.Trỗi , cùng Nuyễn Văn Tân Hải Quân X 46 …
Ở Ngải Dương , chúng tôi được ôn tập và kiểm tra văn hóa . Đợt kiểm tra đầu tiên , ai không đạt yêu cầu thì được học trọn một ngày không phải lao động xây dựng trường lớp hoặc giúp dân ;còn ai đạt được yêu cầu thì được ôn tập nửa ngày . Rồi, kiểm tra lại chính thức trước khi Khai giảng năm học .
Đoàn Hải Quân chúng tôi có Trinh không đủ điểm để theo học , nhưng Trường cho lựa chọn : hoặc về đơn vị hoặc vẫn theo học và cố gắng theo kịp đồng đội ; bấy giờ _Khóa 1 không có khóa Dự bị như các khóa sau _Dự bị tại trường, nhưng Trinh chọn con đường quay về đơn vị cũ . Bởi vì khóa của chúng tôi đều được tuyển chọn từ các Quân , Binh chủng khắp toàn quân về học khóa đầu tiên mang tên Trường Đại học Kỹ Thuật Quân Sự V.N ( Thuở khai sinh ,gọi là Phân hiệu 2 Đại Học Bách khoa Hà nội , có 2 khóa chuyển tiếp và họ ra trường trước chúng tôi 2 năm và nhận bằng tốt nghiệp của Bách khoa H N ) Thấm thoát đã 48 năm từ ngày về trường nay 5 , 6 chúng tôi mỗi người một một khác nhau trong nhiệm vụ sau khi ra trường và rồi đều đi trọn cuộc kháng chiến hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước ; nay mỗi người lại vẫn tiếp tục những ngày nghỉ hưu cũng khác nhau , người thì trở thành Kịch Tác gia , người thì trở thành Võ Sư YOGA ngườn thì thành chủ trang trại vẫn cầm vô lăng ô-tô riêng , người là những giảng viên Trường Đại học , người là Cán bộ Khoa học . .. Ngồi bên mâm cơm trong khách sạn Sài Gòn chúng tôi không khỏi bùi ngùi khi nhớ và nói đến các Đồng Đội đã ra đi vì bệnh tật và tuổi tác đã từng trải trên dọc đường Trường Sơn hoặc trên Đất Bắc dầy đạc đạn bom khốc liệt .
\
Tiếp theo
Nội dung :
Những năm tháng trên chiến trường B2 Miền Đông Nanm Bộ
ĐạiTá Lê Tùng Sơn Ô TÔ –TĂNG XÍCH Bài từ Biên Hoà chuyển qua Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
Những năm tháng trên chiến trường B2 Miền Đông Nanm Bộ
ĐạiTá Lê Tùng Sơn Ô TÔ –TĂNG XÍCH Bài từ Biên Hoà chuyển qua Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
LÊ TÙNG SƠN
Bài từ Biên Hoà chuyển qua Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trườngBài từ Biên Hoà chuyển qua Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
Chuyện thứ hai: Sửa xe M113 dưới pháo sáng
Đỗ Đăng Đích
Trên Đất THỦ ĐÔ
Đ ẤT TH ÁNH__H À N ỘI
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
KHÔNG ĐỀ
Mẩu chuyện bên lề
Đ ẤT TH ÁNH__H À N ỘI
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
KHÔNG ĐỀ
Mẩu chuyện bên lề
Chuyên thứ nhất:
Gặp bạn ở chiến trường
Tôi và Trần Phượng đang học bổ túc lái
xe để lấy bằng ở trường lái xe 255 thì được lệnh về Bộ Tư Lệnh Pháo binh nhận
công tác. Trước khi đi học tôi là khẩu đội trưởng 12,7ly đại đội 20 Trường Sĩ
quan Pháo binh, Trần Phượng là thợ của trạm sửa chữa trung đoàn 368 BTLPB. Trần
Phượng được điều động về làm trạm trưởng sửa chữa xe trung đoàn 204-BTLPB. Tôi
được điều động về làm trạm trưởng sửa chữa xe đi B2-chiến trường Đông Nam bộ.
Khi đến gặp đồng chí trưởng ban cán bộ BTLPB để nhận quyết định đi B, cho đến bây giờ tôi cũng không nhớ nổi cảm xúc của mình, bởi lẽ lúc bấy giờ mọi suy nghĩ hành động của người thanh niên nói chung và người Đảng viên, sĩ quan nói riêng, việc đi B là một vinh dự là một việc tất nhiên phải làm không có gì phải đắn đo suy nghĩ…
Tôi được nghỉ phép 15 ngày, về nhà chẵng biết làm gì, nhà tôi ở khu tập thể Công ty vật liệu khiến thiết Hà nội 17 Hàng Ngang khu Hoàn kiếm, Hà nội các em tôi còn nhỏ đang di học cấp 1,2 má tôi bận đi bán hàng ở cửa hàng của công ty, ba tôi ở tận Thanh hóa đang làm giám đốc công ty vận tải lâm sản Tổng cục Lâm nghiệp. Ngày đi vào đợn vị 675 ở Thanh hóa chỉ có Chúc là vợ của Ngọc Tuấn bạn thân của tôi đi tiễn ra bến xe Kim liên, lên xe rồi chỉ có vợ bạn là khóc còn mình thì mong sao đến đơn vị sớm.
Đến trung đoàn 675 ở Triệu sơn Thanh hóa vào buổi tối, đơn vị đóng trong nhà dân bản Mường. Ngày hôm sau tôi nhận bàn giao trạm sửa chữa xe của trung đoàn đã được tập trung từ trước chỉ chờ tôi vào nhận bàn giao để đi B2. Trạm xe có 14 chiến sĩ gồm thợ xe, thợ nguội, thợ rèn và lái xe, trạm có hai xe Vọt tiến chở trang bị dụng cụ, máy phát điện 10kw…
Đầu tháng 12/1971 trạm cơ động ra trường bắn 410-BTLPB đề tham gia thành lập đoàn 2047Ađi B2. Đoàn bao gồm đại đội cối 160 ly do anh Bùi như Lạc làm đại đội trưởng, trạm sửa chữa pháo do anh Phan thanh Nga làm trạm trưởng, anh Nga cũng học chuyển tiếp C8 ở trường ĐHKTQS và trạm sửa xe của tôi, toàn đoàn có 12 xe gồm 7 xe Hoàng Hà chở cối cùng đạn cối 160 ly,3xe Vọt tiến của trạm pháo và 2 xe của trạm xe.Chúng tôi ở tại 410 hơn 10 ngày để củng cố tổ chức,làm dàn ngụy trang cho xe, bảo dưỡng xe lần cuối. Mỗi xe đều được che chắn buồng lái ở trên nóc và hai bên cánh của bằng phên tre, nứa. Chúng tôi phải gửi lại tất cả giấy tờ tùy thân để biến thành chiến sĩ quân giải phóng miền nam… Ngày16/12/1971 chúng tôi hành quân về phía nam, lúc này Mỹ đã tạm ngừng ném bom từ vĩ tuyến 38 trở ra nên chúng tôi được hành quân trên quốc lộ một. Hành quân trên đường, với lá cờ nửa đỏ nửa xanh cắm ở đầu xe, thỉnh thoảng gặp một đoàn tàu chở bộ đội đi cùng hướng, hai bên reo hò vẫy tay cùng hát vang những bài ca giải phóng. Có lúc gặp những bà mẹ,cô gái đang cấy lúa bên đường họ ngửng đầu lên giơ tay vẫy vẫy và kéo vạt áo lau những giọt nước mắt…tôi chợt nghĩ cũng may mà mình chưa có vợ chưa có người yêu…
Đến Cự nẫm Quảng bình chúng tôi dừng lại củng cố đội hình,kiểm tra xe máy,tôi cùng anh Minh trưởng đoàn đi vào Bộ tư lệnh 559 để xin lệnh hành quân, gặp bác Đồng sĩ Nguyên Tư lệnh 559 động viên và trực tiếp kí lệnh hành quân tôi cũng thấy phấn chấn trong lòng và chỉ mong chóng tới mặt trận. Đoàn chúng tôi tiếp tục hành quân với đội hình đại đội cối 160 ly với 7 xe Hoàng Hà đi đầu, anh Minh đoàn trưởng đi cùng, Trạm pháo đi giữa gồm 3 xe Vọt tiến và tôi đi cuối cùng với 2 xe Vọt tiến,tôi đảm nhiệm tham mưu trưởng hành quân có nhiệm vụ giải quyết mọi sự cố hỏng hóc dọc đường. Đường hành quân trên Trường sơn sách báo tài liệu nói nhiều rồi, tôi đã trải qua và nếm đủ. Từ leo đèo lội suối với những hàng tiêu dẫn đường bằng vải trắng, từ những đoạn đường được lót bằng những cây cừ cho tới vượt qua những trảng trống..,Từ những đêm đi bằng đèn ống bơ dưới ánh sáng của pháo sáng và tiếng ầm ì của máy bay C130, cùng những loạt cối 40 ly trên máy bay bắn xuống mà anh em trường sơn gọi là ‘xin thùng” đến những lúc vượt qua trảng trống với tiếng gầm của máy bayL19 đuổi theo và cả những tiềng ầm ầm của bom tọa độ do máy bay F105 ném xuống…Có đêm chỉ đi được 3km, sáng ra nhìn hố nước mà mình đã uống đêm qua thì thật kinh hãi bởi phân thú rừng đã ỉa từ lúc nào…
Đến binh trạm 32 đoàn chúng tôi bị ném bom, cháy mất 2xe CA30 của đại đội cối, nhìn xe cháy, đạn nổ mà chẳng làm gì được. Đến khu vực trú quân lại bị một trận bom nữa, tốp đi đầu vừa đến trạm chưa kịp đưa xe vào mang cá thì bị bom, anh em chạy sơ tán vào rừng, anh Minh trưởng đoàn bị thương nặng và hai ba chiến sĩ nữa cũng bị thương, lửa cháy ngùn ngụt tiếng rít cua máy bay còn trên đầu, tôi và hai chiến sĩ của trạm xe (Tín và Thạnh) chạy lên đập cửa kính đấu tắt khóa điện lái mấy chiếc xe ở ngoài bãi trống vào mang cá tránh lửa bén tới. Trời sáng hẳn mọi người mới trở về xe để tiếp tục hành quân, anh Minh và các chiến sĩ bị thương phải vào trạm cứu thương của binh trạm để trở ra Bắc. Cũng từ hôm đó một vài chiến sĩ đã nao núng tinh thần có ý đào ngũ, và đúng như vậy có hai chiến sĩ đã trốn khỏi đội hình đơn vị.
Cuối năm 1971 đầu năm 1972 đường Trường sơn nhộn nhịp hẳn lên bởi ngoài tuyến vận tải nội bộ của Đoàn 559 còn có các đoàn hành quân đi thẳng vào chiến trường B2,B3 tiêu biểu là đoàn 571 của Cục Hậu cần Miền(B2), trong đó có đoàn 2047A của tôi. Theo quy định của Tư lệnh 559 xe cuả 559 phải nhường đường cho các đoàn đi thẳng. Đến binh trạm 38 một điều bất ngờ ập tới với tôi:gặp Công Sơn. Lê công Sơn người Nghệ an, cùng tiểu đội học viên, học giỏi, tính trầm ít nói,ít tham gia hoạt động ngoại khóa văn nghệ thể dục thể thao,Sơn được điều đi B vào đoàn 559 trước tôi hơn một tháng.Ai ngờ hôm nay gặp nhau ở chiến trường mừng khôn tả. Gặp nhau ôm nhau mừng rỡ rồi hai thằng chui xuống gầm xe nằm nói chuyện thâu đêm tới sáng. Cho đến bây giờ tôi không thể nào quên những giờ phút gặp bạn đó, đêm không trăng nhưng đầy sao, yên tĩnh không bị lũ C130 quấy rầy,có lẽ chúng biết hai thằng bạn học của trường ĐHKTQS gặp nhau nên không dám đến khu vực này đánh phá. Thôi thì đủ chuyện trên trời dưới biển chúng tôi kể cho nhau nghe, Sơn có người nữ bạn học từ thời phổ thông yêu hay chưa thì không biết, nhưng hắn nói Trâm(tên người bạn Sơn) đã thầm yêu cậu ta.Xin được trích một đoạn nhật ký của Sơn về cuộc gặp đó (đã được Hà em gái Sơn cho phép trích): Chiều hôm qua,giữa Trường Sơn đất lửa,tôi đã gặp lại Tùng Sơn,người bạn thân yêu của tôi. Đang nằm trong căn nhà dã chiến lợp ni lông,tình cờ đứng dậy đi ra ngoài, Tùng Sơn gọi sửng sốt"Sơn!. Thế là tôi nhảy ào
Khi đến gặp đồng chí trưởng ban cán bộ BTLPB để nhận quyết định đi B, cho đến bây giờ tôi cũng không nhớ nổi cảm xúc của mình, bởi lẽ lúc bấy giờ mọi suy nghĩ hành động của người thanh niên nói chung và người Đảng viên, sĩ quan nói riêng, việc đi B là một vinh dự là một việc tất nhiên phải làm không có gì phải đắn đo suy nghĩ…
Tôi được nghỉ phép 15 ngày, về nhà chẵng biết làm gì, nhà tôi ở khu tập thể Công ty vật liệu khiến thiết Hà nội 17 Hàng Ngang khu Hoàn kiếm, Hà nội các em tôi còn nhỏ đang di học cấp 1,2 má tôi bận đi bán hàng ở cửa hàng của công ty, ba tôi ở tận Thanh hóa đang làm giám đốc công ty vận tải lâm sản Tổng cục Lâm nghiệp. Ngày đi vào đợn vị 675 ở Thanh hóa chỉ có Chúc là vợ của Ngọc Tuấn bạn thân của tôi đi tiễn ra bến xe Kim liên, lên xe rồi chỉ có vợ bạn là khóc còn mình thì mong sao đến đơn vị sớm.
Đến trung đoàn 675 ở Triệu sơn Thanh hóa vào buổi tối, đơn vị đóng trong nhà dân bản Mường. Ngày hôm sau tôi nhận bàn giao trạm sửa chữa xe của trung đoàn đã được tập trung từ trước chỉ chờ tôi vào nhận bàn giao để đi B2. Trạm xe có 14 chiến sĩ gồm thợ xe, thợ nguội, thợ rèn và lái xe, trạm có hai xe Vọt tiến chở trang bị dụng cụ, máy phát điện 10kw…
Đầu tháng 12/1971 trạm cơ động ra trường bắn 410-BTLPB đề tham gia thành lập đoàn 2047Ađi B2. Đoàn bao gồm đại đội cối 160 ly do anh Bùi như Lạc làm đại đội trưởng, trạm sửa chữa pháo do anh Phan thanh Nga làm trạm trưởng, anh Nga cũng học chuyển tiếp C8 ở trường ĐHKTQS và trạm sửa xe của tôi, toàn đoàn có 12 xe gồm 7 xe Hoàng Hà chở cối cùng đạn cối 160 ly,3xe Vọt tiến của trạm pháo và 2 xe của trạm xe.Chúng tôi ở tại 410 hơn 10 ngày để củng cố tổ chức,làm dàn ngụy trang cho xe, bảo dưỡng xe lần cuối. Mỗi xe đều được che chắn buồng lái ở trên nóc và hai bên cánh của bằng phên tre, nứa. Chúng tôi phải gửi lại tất cả giấy tờ tùy thân để biến thành chiến sĩ quân giải phóng miền nam… Ngày16/12/1971 chúng tôi hành quân về phía nam, lúc này Mỹ đã tạm ngừng ném bom từ vĩ tuyến 38 trở ra nên chúng tôi được hành quân trên quốc lộ một. Hành quân trên đường, với lá cờ nửa đỏ nửa xanh cắm ở đầu xe, thỉnh thoảng gặp một đoàn tàu chở bộ đội đi cùng hướng, hai bên reo hò vẫy tay cùng hát vang những bài ca giải phóng. Có lúc gặp những bà mẹ,cô gái đang cấy lúa bên đường họ ngửng đầu lên giơ tay vẫy vẫy và kéo vạt áo lau những giọt nước mắt…tôi chợt nghĩ cũng may mà mình chưa có vợ chưa có người yêu…
Đến Cự nẫm Quảng bình chúng tôi dừng lại củng cố đội hình,kiểm tra xe máy,tôi cùng anh Minh trưởng đoàn đi vào Bộ tư lệnh 559 để xin lệnh hành quân, gặp bác Đồng sĩ Nguyên Tư lệnh 559 động viên và trực tiếp kí lệnh hành quân tôi cũng thấy phấn chấn trong lòng và chỉ mong chóng tới mặt trận. Đoàn chúng tôi tiếp tục hành quân với đội hình đại đội cối 160 ly với 7 xe Hoàng Hà đi đầu, anh Minh đoàn trưởng đi cùng, Trạm pháo đi giữa gồm 3 xe Vọt tiến và tôi đi cuối cùng với 2 xe Vọt tiến,tôi đảm nhiệm tham mưu trưởng hành quân có nhiệm vụ giải quyết mọi sự cố hỏng hóc dọc đường. Đường hành quân trên Trường sơn sách báo tài liệu nói nhiều rồi, tôi đã trải qua và nếm đủ. Từ leo đèo lội suối với những hàng tiêu dẫn đường bằng vải trắng, từ những đoạn đường được lót bằng những cây cừ cho tới vượt qua những trảng trống..,Từ những đêm đi bằng đèn ống bơ dưới ánh sáng của pháo sáng và tiếng ầm ì của máy bay C130, cùng những loạt cối 40 ly trên máy bay bắn xuống mà anh em trường sơn gọi là ‘xin thùng” đến những lúc vượt qua trảng trống với tiếng gầm của máy bayL19 đuổi theo và cả những tiềng ầm ầm của bom tọa độ do máy bay F105 ném xuống…Có đêm chỉ đi được 3km, sáng ra nhìn hố nước mà mình đã uống đêm qua thì thật kinh hãi bởi phân thú rừng đã ỉa từ lúc nào…
Đến binh trạm 32 đoàn chúng tôi bị ném bom, cháy mất 2xe CA30 của đại đội cối, nhìn xe cháy, đạn nổ mà chẳng làm gì được. Đến khu vực trú quân lại bị một trận bom nữa, tốp đi đầu vừa đến trạm chưa kịp đưa xe vào mang cá thì bị bom, anh em chạy sơ tán vào rừng, anh Minh trưởng đoàn bị thương nặng và hai ba chiến sĩ nữa cũng bị thương, lửa cháy ngùn ngụt tiếng rít cua máy bay còn trên đầu, tôi và hai chiến sĩ của trạm xe (Tín và Thạnh) chạy lên đập cửa kính đấu tắt khóa điện lái mấy chiếc xe ở ngoài bãi trống vào mang cá tránh lửa bén tới. Trời sáng hẳn mọi người mới trở về xe để tiếp tục hành quân, anh Minh và các chiến sĩ bị thương phải vào trạm cứu thương của binh trạm để trở ra Bắc. Cũng từ hôm đó một vài chiến sĩ đã nao núng tinh thần có ý đào ngũ, và đúng như vậy có hai chiến sĩ đã trốn khỏi đội hình đơn vị.
Cuối năm 1971 đầu năm 1972 đường Trường sơn nhộn nhịp hẳn lên bởi ngoài tuyến vận tải nội bộ của Đoàn 559 còn có các đoàn hành quân đi thẳng vào chiến trường B2,B3 tiêu biểu là đoàn 571 của Cục Hậu cần Miền(B2), trong đó có đoàn 2047A của tôi. Theo quy định của Tư lệnh 559 xe cuả 559 phải nhường đường cho các đoàn đi thẳng. Đến binh trạm 38 một điều bất ngờ ập tới với tôi:gặp Công Sơn. Lê công Sơn người Nghệ an, cùng tiểu đội học viên, học giỏi, tính trầm ít nói,ít tham gia hoạt động ngoại khóa văn nghệ thể dục thể thao,Sơn được điều đi B vào đoàn 559 trước tôi hơn một tháng.Ai ngờ hôm nay gặp nhau ở chiến trường mừng khôn tả. Gặp nhau ôm nhau mừng rỡ rồi hai thằng chui xuống gầm xe nằm nói chuyện thâu đêm tới sáng. Cho đến bây giờ tôi không thể nào quên những giờ phút gặp bạn đó, đêm không trăng nhưng đầy sao, yên tĩnh không bị lũ C130 quấy rầy,có lẽ chúng biết hai thằng bạn học của trường ĐHKTQS gặp nhau nên không dám đến khu vực này đánh phá. Thôi thì đủ chuyện trên trời dưới biển chúng tôi kể cho nhau nghe, Sơn có người nữ bạn học từ thời phổ thông yêu hay chưa thì không biết, nhưng hắn nói Trâm(tên người bạn Sơn) đã thầm yêu cậu ta.Xin được trích một đoạn nhật ký của Sơn về cuộc gặp đó (đã được Hà em gái Sơn cho phép trích): Chiều hôm qua,giữa Trường Sơn đất lửa,tôi đã gặp lại Tùng Sơn,người bạn thân yêu của tôi. Đang nằm trong căn nhà dã chiến lợp ni lông,tình cờ đứng dậy đi ra ngoài, Tùng Sơn gọi sửng sốt"Sơn!. Thế là tôi nhảy ào
tới
siết chặt bạn trong niềm vui sướng.Chiều tối lại chỗ Tùng Sơn chơi cách 2 km.
Tối đến trải bạt xuống đất,mắc màn và ôm nhau tâm sự đến hơn 1h sáng mới ngủ
thiếp đi trong niềm vui gặp bạn.
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miền Nam. Bạn đang còn đi xa hơn tôi nhiều vì tôi mới chỉ đi đến vĩ tuyến Quảng Đà, còn Tùng Sơn đi vào B2. Thế là 3 thằng Sơn đều vào chiến trường cả.Nằm tâm sự, Tùng Sơn đã kể về gia đình mình, vui nhất là điều mong muốn của mình được thực hiện: ba mẹ và các em đều khoẻ. Em Hà được vào học sư phạm 10+3. Tình hình gia đình như vậy là rất tốt, chỉ còn mình lo công tác cho tốt nữa thôi.”
Vậy là 3 Sơn của B5 đã vào chiến trường: Thanh Sơn và Công Sơn vào 559 còn tôi vào B2 Đông Nam bộ. Sơn nhất quyết sau khi chấm dứt chiến tranh sẽ đi học tiếp, lấy cho được bằng phó tiến sĩ. Đúng như Sơn nói sau này khi đã về làm phó phòng quản lý sử dụng Cục ô tô máy kéo, anh ta vài lần đi thi nghiên cứu sinh nhưng rất không may đều trượt. Trượt về mơ ước học vấn phải chăng làm cho cuộc đời Sơn gặp không may về nhiều chuyện khác về gia đình riêng, rồi kết cục mà năm 2006 khi tôi nằm cùng viện 175 với Sơn thì Sơn trút hơi thở cuối cùng vì bạo bệnh. Lúc mất Sơn là Đại tá chủ nhiệm kho J250 Cục oto máy kéo-TCKT. Cuối năm 1972 lúc đó tôi vẫn là trạm trưởng sửa xe thuộc Đoàn Pháo Biên hòa chiến trường miền đông Nam bộ. Gặp anh Trần Ba lớp chuyên tu 221 trong một hoàn cảnh đặc biệt: nồi cháo ong thấm bom tọa độ.Hồi ấy sau một đêm hành quân chuyển cứ về“đồi Tám cách mạng”(một địa danh bên đất CPC tỉnh Krache),gần sáng thì tới vị trí đóng quân.Tôi ra lệnh cho đơn vị nhanh chóng triển khai đào hầm trú ẩn,mọi người nhanh chóng dỡ phụ tùng dụng cụ xuống xe, phủ bạt và phân nhau đi đào hầm. Hầm chỉ huy do tổ thợ rèn của Nguyễn thế Hệ đào.Dáng người to khỏe,cao lớn,Hệ cuốc từng nhát phầm phập mặc dù mùa khô bên đất CPC đất rất cứng như sỏi đá. Bỗng đâu những tiếng ù ù ù vang đến và trời đất như tối sầm lại…cố gắng định thần mọi người thấy một đàn ong mật vô vàn con đang ào ào xông tới đốt túi bụi…Thế là mạnh ai người ấy chạy, tôi cùng y tá Hùng mải miết chạy và chạy,đằng sau đàn ong vẫn uốn lượn đuổi theo,cổ và tay đã được nêm vài mũi chích rồi.Chạy được vài cây số thì may thay chúng không đuổi theo nữa,định đốt đống lửa để đề phòng thì nghe thấy tiến vè vè của máy bay trinh sát OV10 trên đầu, thế là đành phải ngồi trong bóng cây chịu trận.Khát và đói nhưng chăng làm được gì bởi “cứ”(tức là mơi đóng quân)thì ong đã chiếm mất rồi. Trời tối anh em chúng tôi lục tục trở về cứ,bấm đèn soi thì thật bất ngờ:tổ ong dài gần 2 mét to bằng cái bàn làm việc.Hệ và mấy chiến sĩ đốt đuốc xông khói bắt bằng được tổ ong nọ.Một nồi hai mươi mật và hai nồi con ong bắt được.Đêm ấy chung tôi nấu một nồi cháo ong ăn bù cho một ngày bận bịu vất vả,chưa kịp vào mâm thì thật bất ngờ:anh Trần Ba tới.Anh Trần Ba là học viên chuyên tu lớp 221 ra trường cùng cuối năm 1971,đi chiến trường theo đường bộ vào miền Đông Nam bộ công tác tại phòng quân giới miền (phòng 4), nghe tin tôi đã vào chiến trường anh lặn lội xuống thăm. Thời bấy giờ ở B2 quãng đường tính bằng giờ đi bộ chứ không tính bằng km, từ chỗ anh tới tôi đi mất 5 giờ. Gặp nhau mừng vui khôn tả, hỏi thăm bạn bè, đồng đội và ôn lại những ngày còn ở nhà tầng Vĩnh yên…Lúc nồi cháo được bưng ra tôi kể cho anh nghe về trận tấn công của bầy ong mà mọi người trải qua giờ mới có thành quả là nồi cháo. Bỗng “ào, ào” chỉ kịp nghe tiếng xé không khí của máy bay F105 bay qua thì chúng tôi đã nằm gọn trong hầm và “ầm ầm” hai quả bom “tọa độ” đã nổ cách chúng tôi khoảng vài chục mét. Đêm miền đông lại tĩnh lặng, chúng tôi lên khỏi hầm để tiếp tục cuộc chén thì ôi thôi nồi cháo đã bay mất rồi, mùi cháo còn thơm lừng với những vụn cháo vương vãi đâu đó dưới ánh đèn pin. Cũng may mà còn được một bi đông mật để đãi anh Trân Ba.
Bây giờ có nhiều cuộc vui với nhiều món sơn hào hải vị, nhiều thức uống cao cấp đắt tiền, nhưng với người lính chẳng có món nào ngon hơn tình đồng chí đồng đội, đó là điều mà không có gì có thể mua được và cũng không dễ gì có được nếu không nếm trải gian khổ nơi chiến trường.
Giữa Năm 1973 bất ngờ tôi lại được gặp tiếp hai thày trò của lớp xe: Anh Bùi thức Hưng và Đỗ thành Hưng. Anh Bùi thức Hưng là giáo viên dạy chúng tôi về kết cấu oto Hồi còn ở trường anh em rất thân nhau, anh học khóa 7 Bách khoa chuyển sang làm giáo viên của trường, tính tình điềm đạm cởi mở và rất tận tình với học trò. Với những học viên có biệt tài đá bóng như tôi anh càng ưu ái. Không ngờ được gặp anh tai chiến trường Đông nam bộ những ngày sôi động sau hiệp định Pari thật vui mừng hết xiết, thật tiếc nghe đâu anh bị tai nạn xe trong khi đi công tác lên biên giới phía Bắc trong cuộc chiến 1979. Đỗ thành Hưng quê Hưng yên, học khóa đầu trường Nguyễn văn Trỗi, được tuyển thẳng vào Đại Học KTQS, học giỏi, sau khi tốt nghiệp được phong quân hàm Chuẩn úy và được phân công về Bộ tư lệnh Tăng Thiết giáp. Khi đi B2 là đại đội trưởng sửa chữa trung đoàn tăng tăng cường cho đoàn M26 Bộ Tư Lệnh miền. Hai thằng gặp nhau ở trạm xăng dầu Lộc ninh, lúc tôi đang chuẩn bị đi phục vụ chiến dịch Phước long. Cùng tiểu đội nên tôi còn nhớ nhiều kỉ nhiệm về Hưng. Sau này khi giải phóng miền Nam, Hưng về Quân khu 9 sau đó về lại QK7 làm trưởng phòng tăng Cục kĩ thuật rồi về hưu sớm do hoàn cảnh gia đình. Hiện giờ thỉnh thoảng vẫn gặp nhau trong cảnh sức khỏe giảm sút nặng nề: Hưng đã đặt 5 Stel trong mạch vành tim…
Khi về căn cứ Bà chiêm Tây ninh tôi gặp bạn Trân Phượng. Trân Phượng cùng tiểu đội và cùng “tổ tam tam”, anh ta có câu nói nổi tiếng: “Tắm nhiều làm gì cho nó nhão thịt” vì bản chất của anh ta rất lười tắm, hai chân “eechdima” lúc nào cũng gãi sồn sột hầu như anh nào của B5 cũng đều nhớ cả. Phượng về BTL Pháo binh cùng tôi, về làm trạm trưởng sửa xe trung đoàn 204, khi đi B2 thì đã làm trợ lý xe trung đoàn rồi. Gặp nhau hỏi thăm được vài câu rồi chia tay vì trung đoàn 204 đã được điều động về quân đoàn 4(lấy phiên hiệu là 434), sau này khi đi chiến dịch mùa khô 1984 ở CPC tôi còn gặp Phượng ở mặt trận 479, lúc này Phượng là CNKT sư 7/QĐ4. Phượng sống ngay thẳng thật thà, khi về hưu “hoàn cảnh” đến mức phường Linh trung quận Thủ đúc TP HCM phải xây tặng cho một căn nhà tình nghĩa. Lần cuối cùng gặp nhau là ở bệnh viện 175, tôi đi điều trị mạch vành tim còn Phượng bị ung thư hạch, năm 2006 Phượng qua đời trước Công Sơn vài tháng.
Gặp nhau trong chốc lát, mừng vui rồi chia tay ai về đơn vị nấy. Tôi tiếp tục chỉ huy đơn vị đi sửa chữa xe phục vụ các chiến dịch cho tới khi giải phóng miền nam 30/4/1975.
Sự đời thật trớ trêu, khi còn thanh xuân vui vẻ và tếu táo, khi về già gặp nhau trong bệnh viện vẫn coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ba thằng cùng tiểu đội lại góp phần phong phú thêm cho khoa A1 bệnh viện 175…
Tôi gặp bạn trong lớp khá nhiều, song bốn bạn gặp ở chiến trường thì đã mất hai rồi. Vẫn biết sinh có hạn tử bất kì, người ta chỉ chữa được bệnh chứ không chữa được mệnh, nhưng mỗi khi nhắc đến lớp đến trường thì những kỷ niệm vui buồn đều nhớ đến người đã khuất dù rằng bản thân tôi cũng mắc nhiều chứng bệnh nan y. Cũng vì vậy mà dù không biết viết văn tôi vẫn cố ít dòng mong sao cho thế hệ học viên đi sau biết cha anh chúng đã sống và đối nhân xử thế như thế nào; để rồivững bước trên đường xây dựng ttỏ quốc quê hương trong thời đại mới hôm nay . ./
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miền Nam. Bạn đang còn đi xa hơn tôi nhiều vì tôi mới chỉ đi đến vĩ tuyến Quảng Đà, còn Tùng Sơn đi vào B2. Thế là 3 thằng Sơn đều vào chiến trường cả.Nằm tâm sự, Tùng Sơn đã kể về gia đình mình, vui nhất là điều mong muốn của mình được thực hiện: ba mẹ và các em đều khoẻ. Em Hà được vào học sư phạm 10+3. Tình hình gia đình như vậy là rất tốt, chỉ còn mình lo công tác cho tốt nữa thôi.”
Vậy là 3 Sơn của B5 đã vào chiến trường: Thanh Sơn và Công Sơn vào 559 còn tôi vào B2 Đông Nam bộ. Sơn nhất quyết sau khi chấm dứt chiến tranh sẽ đi học tiếp, lấy cho được bằng phó tiến sĩ. Đúng như Sơn nói sau này khi đã về làm phó phòng quản lý sử dụng Cục ô tô máy kéo, anh ta vài lần đi thi nghiên cứu sinh nhưng rất không may đều trượt. Trượt về mơ ước học vấn phải chăng làm cho cuộc đời Sơn gặp không may về nhiều chuyện khác về gia đình riêng, rồi kết cục mà năm 2006 khi tôi nằm cùng viện 175 với Sơn thì Sơn trút hơi thở cuối cùng vì bạo bệnh. Lúc mất Sơn là Đại tá chủ nhiệm kho J250 Cục oto máy kéo-TCKT. Cuối năm 1972 lúc đó tôi vẫn là trạm trưởng sửa xe thuộc Đoàn Pháo Biên hòa chiến trường miền đông Nam bộ. Gặp anh Trần Ba lớp chuyên tu 221 trong một hoàn cảnh đặc biệt: nồi cháo ong thấm bom tọa độ.Hồi ấy sau một đêm hành quân chuyển cứ về“đồi Tám cách mạng”(một địa danh bên đất CPC tỉnh Krache),gần sáng thì tới vị trí đóng quân.Tôi ra lệnh cho đơn vị nhanh chóng triển khai đào hầm trú ẩn,mọi người nhanh chóng dỡ phụ tùng dụng cụ xuống xe, phủ bạt và phân nhau đi đào hầm. Hầm chỉ huy do tổ thợ rèn của Nguyễn thế Hệ đào.Dáng người to khỏe,cao lớn,Hệ cuốc từng nhát phầm phập mặc dù mùa khô bên đất CPC đất rất cứng như sỏi đá. Bỗng đâu những tiếng ù ù ù vang đến và trời đất như tối sầm lại…cố gắng định thần mọi người thấy một đàn ong mật vô vàn con đang ào ào xông tới đốt túi bụi…Thế là mạnh ai người ấy chạy, tôi cùng y tá Hùng mải miết chạy và chạy,đằng sau đàn ong vẫn uốn lượn đuổi theo,cổ và tay đã được nêm vài mũi chích rồi.Chạy được vài cây số thì may thay chúng không đuổi theo nữa,định đốt đống lửa để đề phòng thì nghe thấy tiến vè vè của máy bay trinh sát OV10 trên đầu, thế là đành phải ngồi trong bóng cây chịu trận.Khát và đói nhưng chăng làm được gì bởi “cứ”(tức là mơi đóng quân)thì ong đã chiếm mất rồi. Trời tối anh em chúng tôi lục tục trở về cứ,bấm đèn soi thì thật bất ngờ:tổ ong dài gần 2 mét to bằng cái bàn làm việc.Hệ và mấy chiến sĩ đốt đuốc xông khói bắt bằng được tổ ong nọ.Một nồi hai mươi mật và hai nồi con ong bắt được.Đêm ấy chung tôi nấu một nồi cháo ong ăn bù cho một ngày bận bịu vất vả,chưa kịp vào mâm thì thật bất ngờ:anh Trần Ba tới.Anh Trần Ba là học viên chuyên tu lớp 221 ra trường cùng cuối năm 1971,đi chiến trường theo đường bộ vào miền Đông Nam bộ công tác tại phòng quân giới miền (phòng 4), nghe tin tôi đã vào chiến trường anh lặn lội xuống thăm. Thời bấy giờ ở B2 quãng đường tính bằng giờ đi bộ chứ không tính bằng km, từ chỗ anh tới tôi đi mất 5 giờ. Gặp nhau mừng vui khôn tả, hỏi thăm bạn bè, đồng đội và ôn lại những ngày còn ở nhà tầng Vĩnh yên…Lúc nồi cháo được bưng ra tôi kể cho anh nghe về trận tấn công của bầy ong mà mọi người trải qua giờ mới có thành quả là nồi cháo. Bỗng “ào, ào” chỉ kịp nghe tiếng xé không khí của máy bay F105 bay qua thì chúng tôi đã nằm gọn trong hầm và “ầm ầm” hai quả bom “tọa độ” đã nổ cách chúng tôi khoảng vài chục mét. Đêm miền đông lại tĩnh lặng, chúng tôi lên khỏi hầm để tiếp tục cuộc chén thì ôi thôi nồi cháo đã bay mất rồi, mùi cháo còn thơm lừng với những vụn cháo vương vãi đâu đó dưới ánh đèn pin. Cũng may mà còn được một bi đông mật để đãi anh Trân Ba.
Bây giờ có nhiều cuộc vui với nhiều món sơn hào hải vị, nhiều thức uống cao cấp đắt tiền, nhưng với người lính chẳng có món nào ngon hơn tình đồng chí đồng đội, đó là điều mà không có gì có thể mua được và cũng không dễ gì có được nếu không nếm trải gian khổ nơi chiến trường.
Giữa Năm 1973 bất ngờ tôi lại được gặp tiếp hai thày trò của lớp xe: Anh Bùi thức Hưng và Đỗ thành Hưng. Anh Bùi thức Hưng là giáo viên dạy chúng tôi về kết cấu oto Hồi còn ở trường anh em rất thân nhau, anh học khóa 7 Bách khoa chuyển sang làm giáo viên của trường, tính tình điềm đạm cởi mở và rất tận tình với học trò. Với những học viên có biệt tài đá bóng như tôi anh càng ưu ái. Không ngờ được gặp anh tai chiến trường Đông nam bộ những ngày sôi động sau hiệp định Pari thật vui mừng hết xiết, thật tiếc nghe đâu anh bị tai nạn xe trong khi đi công tác lên biên giới phía Bắc trong cuộc chiến 1979. Đỗ thành Hưng quê Hưng yên, học khóa đầu trường Nguyễn văn Trỗi, được tuyển thẳng vào Đại Học KTQS, học giỏi, sau khi tốt nghiệp được phong quân hàm Chuẩn úy và được phân công về Bộ tư lệnh Tăng Thiết giáp. Khi đi B2 là đại đội trưởng sửa chữa trung đoàn tăng tăng cường cho đoàn M26 Bộ Tư Lệnh miền. Hai thằng gặp nhau ở trạm xăng dầu Lộc ninh, lúc tôi đang chuẩn bị đi phục vụ chiến dịch Phước long. Cùng tiểu đội nên tôi còn nhớ nhiều kỉ nhiệm về Hưng. Sau này khi giải phóng miền Nam, Hưng về Quân khu 9 sau đó về lại QK7 làm trưởng phòng tăng Cục kĩ thuật rồi về hưu sớm do hoàn cảnh gia đình. Hiện giờ thỉnh thoảng vẫn gặp nhau trong cảnh sức khỏe giảm sút nặng nề: Hưng đã đặt 5 Stel trong mạch vành tim…
Khi về căn cứ Bà chiêm Tây ninh tôi gặp bạn Trân Phượng. Trân Phượng cùng tiểu đội và cùng “tổ tam tam”, anh ta có câu nói nổi tiếng: “Tắm nhiều làm gì cho nó nhão thịt” vì bản chất của anh ta rất lười tắm, hai chân “eechdima” lúc nào cũng gãi sồn sột hầu như anh nào của B5 cũng đều nhớ cả. Phượng về BTL Pháo binh cùng tôi, về làm trạm trưởng sửa xe trung đoàn 204, khi đi B2 thì đã làm trợ lý xe trung đoàn rồi. Gặp nhau hỏi thăm được vài câu rồi chia tay vì trung đoàn 204 đã được điều động về quân đoàn 4(lấy phiên hiệu là 434), sau này khi đi chiến dịch mùa khô 1984 ở CPC tôi còn gặp Phượng ở mặt trận 479, lúc này Phượng là CNKT sư 7/QĐ4. Phượng sống ngay thẳng thật thà, khi về hưu “hoàn cảnh” đến mức phường Linh trung quận Thủ đúc TP HCM phải xây tặng cho một căn nhà tình nghĩa. Lần cuối cùng gặp nhau là ở bệnh viện 175, tôi đi điều trị mạch vành tim còn Phượng bị ung thư hạch, năm 2006 Phượng qua đời trước Công Sơn vài tháng.
Gặp nhau trong chốc lát, mừng vui rồi chia tay ai về đơn vị nấy. Tôi tiếp tục chỉ huy đơn vị đi sửa chữa xe phục vụ các chiến dịch cho tới khi giải phóng miền nam 30/4/1975.
Sự đời thật trớ trêu, khi còn thanh xuân vui vẻ và tếu táo, khi về già gặp nhau trong bệnh viện vẫn coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ba thằng cùng tiểu đội lại góp phần phong phú thêm cho khoa A1 bệnh viện 175…
Tôi gặp bạn trong lớp khá nhiều, song bốn bạn gặp ở chiến trường thì đã mất hai rồi. Vẫn biết sinh có hạn tử bất kì, người ta chỉ chữa được bệnh chứ không chữa được mệnh, nhưng mỗi khi nhắc đến lớp đến trường thì những kỷ niệm vui buồn đều nhớ đến người đã khuất dù rằng bản thân tôi cũng mắc nhiều chứng bệnh nan y. Cũng vì vậy mà dù không biết viết văn tôi vẫn cố ít dòng mong sao cho thế hệ học viên đi sau biết cha anh chúng đã sống và đối nhân xử thế như thế nào; để rồivững bước trên đường xây dựng ttỏ quốc quê hương trong thời đại mới hôm nay . ./
Chuyện thứ hai:
Sửa xe M113 dưới pháo sang
Sau thắng lợi chiến dịch Lộc ninh,
cuối năm 1972 quân giải phóng mở chiến dịch Bình long nhằm cắt đứt đường 13 mở
rộng vùng giải phóng chờ thời cơ tiến về Sài gòn.
Để phục vụ chiến dịch, trước đó trạm xe của tôi đã đi sửa hết một vòng các đơn vị trong Đoàn pháo Biên hòa. Khi học ở trường tôi hay nói vui với các bạn:mình được đào tạo để“cái gì cũng biết, nhưng chẳng biết cái gì cả”.Ra trường tiếp xúc với thực tế nếu biết vận dụng“cái gì cũng biết”với tinh thần cầu thị không dấu dốt,sẵn sàng học hỏi và xắn tay áo lao vào làm với anh em thợ,những người thợ lành nghề thì sẽ“biết làm”và biết chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ.Trời phú cho tôi cái tính hòa đồng và điều quan trọng hơn cả là trong chiến tranh gian khổ ác liệt cận kề với cái chết thì tình thương yêu đồng đội còn quý hơn cả cái gọi là trên dưới,sĩ quan và binh lính…Vì vậy trạm của tôi đã luôn hoàn thành nhiệm vụ trên giao, cũng có chiến sĩ bị thương nặng trong chiến dịch Lộc ninh(cậu Phương bị bom ở cầu Cần lê trên đường 13), nhưng tinh thần vẫn không nao núng.Chiến dịch Bình long lực lượng pháo chiến dịch chủ yếu là lựu pháo 105,pháo chống tăng 85 các loại DKZ,cối 160,120…Đặc biệt ta thu được một số pháo 155ly của địch, không có xe kéo phải dùng xe M113 thu được của địch để kéo pháo.Những trận đánh đang diễn ra ác liệt thì một xe M113 trên đường ra trận địa bị hỏng.Không có xe kéo pháo thì quả là một điều khó khắc phục bởi pháo 155 nặng tới gần 5 tấn.
Tôi đang ở căn cứ của trạm và mới trải qua một trận sốt rét thừa chết thiếu sống, nhiệt độ lên tới 41,2 độ, trời nắng chang chang nhưng vẫn trùm chăn ngồi cạnh đống lửa . Ai đã ở chiến trường đều hiểu sốt rét là thế nào, nóng hầm hập nhưng vẫn lạnh run người, miệng khô môi nẻ cơm không ăn cháo không màng chỉ thèm dâu da rừng…muốn đứng dậy phải hai tay hai gậy chống…Có lẽ bài học vỡ lòng và chuyên sâu của người lính ở chiến trường là sốt rét. Đang nằm trên võng thì liên lạc của Phòng hậu cần gọi tôi lên Phòng nhận nhiệm vụ gấp. Tôi vơ vội quần áo tăng võng bỏ vào bồng và gọi Hệ hộ tống tôi trên đường về phòng Hậu cần.
Anh Khanh trưởng phòng hậu cần Đoàn pháo Biên hòa giao nhiệm vụ cho tôi đi sửa cái xe M113 ấy. Anh nói: “Tôi báo cáo với Tư lệnh pháo binh, tôi chỉ còn dự trữ một kĩ sư duy nhất, nay tung ra rồi, Tư lệnh yên tâm, sẽ có xe kéo cho pháo 155ly”.
Tôi chỉ thị cho Hệ đi sang cánh Bắc gọi Tín là thợ xe chủ lực của trạm về vị trí xe M113T(Tín học ở trường trung cấp Bộ nông trường, tay nghề rất giỏi) Gần tối chúng tôi gặp nhau ở trong một khu rừng dầu nơi chiếc xe M113 nằm chình ình một đống. Hỏi Hẩu lái xe tình trạng xe thế nào, anh ta bảo xe chạy đến đó vướng gốc cây không chạy được, tắt máy xong lên nổ lại thì không khởi động được.
Để phục vụ chiến dịch, trước đó trạm xe của tôi đã đi sửa hết một vòng các đơn vị trong Đoàn pháo Biên hòa. Khi học ở trường tôi hay nói vui với các bạn:mình được đào tạo để“cái gì cũng biết, nhưng chẳng biết cái gì cả”.Ra trường tiếp xúc với thực tế nếu biết vận dụng“cái gì cũng biết”với tinh thần cầu thị không dấu dốt,sẵn sàng học hỏi và xắn tay áo lao vào làm với anh em thợ,những người thợ lành nghề thì sẽ“biết làm”và biết chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ.Trời phú cho tôi cái tính hòa đồng và điều quan trọng hơn cả là trong chiến tranh gian khổ ác liệt cận kề với cái chết thì tình thương yêu đồng đội còn quý hơn cả cái gọi là trên dưới,sĩ quan và binh lính…Vì vậy trạm của tôi đã luôn hoàn thành nhiệm vụ trên giao, cũng có chiến sĩ bị thương nặng trong chiến dịch Lộc ninh(cậu Phương bị bom ở cầu Cần lê trên đường 13), nhưng tinh thần vẫn không nao núng.Chiến dịch Bình long lực lượng pháo chiến dịch chủ yếu là lựu pháo 105,pháo chống tăng 85 các loại DKZ,cối 160,120…Đặc biệt ta thu được một số pháo 155ly của địch, không có xe kéo phải dùng xe M113 thu được của địch để kéo pháo.Những trận đánh đang diễn ra ác liệt thì một xe M113 trên đường ra trận địa bị hỏng.Không có xe kéo pháo thì quả là một điều khó khắc phục bởi pháo 155 nặng tới gần 5 tấn.
Tôi đang ở căn cứ của trạm và mới trải qua một trận sốt rét thừa chết thiếu sống, nhiệt độ lên tới 41,2 độ, trời nắng chang chang nhưng vẫn trùm chăn ngồi cạnh đống lửa . Ai đã ở chiến trường đều hiểu sốt rét là thế nào, nóng hầm hập nhưng vẫn lạnh run người, miệng khô môi nẻ cơm không ăn cháo không màng chỉ thèm dâu da rừng…muốn đứng dậy phải hai tay hai gậy chống…Có lẽ bài học vỡ lòng và chuyên sâu của người lính ở chiến trường là sốt rét. Đang nằm trên võng thì liên lạc của Phòng hậu cần gọi tôi lên Phòng nhận nhiệm vụ gấp. Tôi vơ vội quần áo tăng võng bỏ vào bồng và gọi Hệ hộ tống tôi trên đường về phòng Hậu cần.
Anh Khanh trưởng phòng hậu cần Đoàn pháo Biên hòa giao nhiệm vụ cho tôi đi sửa cái xe M113 ấy. Anh nói: “Tôi báo cáo với Tư lệnh pháo binh, tôi chỉ còn dự trữ một kĩ sư duy nhất, nay tung ra rồi, Tư lệnh yên tâm, sẽ có xe kéo cho pháo 155ly”.
Tôi chỉ thị cho Hệ đi sang cánh Bắc gọi Tín là thợ xe chủ lực của trạm về vị trí xe M113T(Tín học ở trường trung cấp Bộ nông trường, tay nghề rất giỏi) Gần tối chúng tôi gặp nhau ở trong một khu rừng dầu nơi chiếc xe M113 nằm chình ình một đống. Hỏi Hẩu lái xe tình trạng xe thế nào, anh ta bảo xe chạy đến đó vướng gốc cây không chạy được, tắt máy xong lên nổ lại thì không khởi động được.
Hỏi
không khởi động được như thế nào thì anh ta trả lời mỗi khi ấn nút nó chỉ kêu
lạch cạch lạch cạch. Tôi bàn với Tín có hai khả năng: bình điện yếu hết điện
hoặc khởi động có vấn đề. Tín dùng
hai sợi dây dẫn
đấu vào hai cực bình điện quệt thử thì tia lửa rất mạnh. Đoán là nguyên nhân từ
khởi động.
Hai anh em chui vào buồng máy, máy xăng hình chữ V giống động cơ Zin130 của ta. Sờ tìm khởi đông…Không thấy đâu. Trời tối chỉ có sao không có trăng, trên đầu máy bay OV10 vè vè, máy bay C130 ầm ì thả pháo sáng, thỉnh thoảng nó quăng vài quả cối 40ly vu vơ…Vai tiếng đồng hồ trôi qua, nếu không sửa xong xe trước trời sáng thì sẽ ảnh hưởng tới quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy. Máy bay vẫn gầm rú trên đầu pháo sáng soi rõ hai khuôn mặt đầy dầu mỡ pha chút lo lắng.Tôi chợt nghĩ sao không chui xuống gầm thử tìm xem, hai anh em chui xuống dưới gầm xe, mặc cho bùn đất lấm lem quần áo mặt mũi, mỗi người một đầu gầm khảo sát. Bổng tôi thấy một vành bu long bắt chặt một cái nắp tròn bằng cái mâm đồng ăn cơm, tôi gọi Tín bò lại và chỉ nó rồi bảo Tín tháo cái mâm này ra. Điều vui mừng tới bất ngờ bởi cái khởi động bằng con lợn con nằm ‘’chình ình ra đó…Tín nhanh chóng tháo và chùi hai đồng xu khởi động, chỉ vừa kịp vặn buloong cuối cùng của nắp chắn tôi đã bảo Hẩu lái xe nổ máy. Tiếng máy nổ rền vang trong tiếng reo vui của mọi người…
Bây giờ kể ra chuyện này có thể ai cũng thấy ngô nghê, lạc lõng quá tầm thường nhưng lúc bấy giờ trong hoàn cảnh chưa tiếp xúc với xe hệ hai bao giờ, lại thêm máy bay quần đảo trên đầu, thời gian gấp gáp, việc tìm thấy cái khởi động cũng là một niệm vui cho anh em tôi rồi, quan trọng hơn là hoàn thành nhiệm vụ có xe để kéo pháo. Đến lúc
Hai anh em chui vào buồng máy, máy xăng hình chữ V giống động cơ Zin130 của ta. Sờ tìm khởi đông…Không thấy đâu. Trời tối chỉ có sao không có trăng, trên đầu máy bay OV10 vè vè, máy bay C130 ầm ì thả pháo sáng, thỉnh thoảng nó quăng vài quả cối 40ly vu vơ…Vai tiếng đồng hồ trôi qua, nếu không sửa xong xe trước trời sáng thì sẽ ảnh hưởng tới quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy. Máy bay vẫn gầm rú trên đầu pháo sáng soi rõ hai khuôn mặt đầy dầu mỡ pha chút lo lắng.Tôi chợt nghĩ sao không chui xuống gầm thử tìm xem, hai anh em chui xuống dưới gầm xe, mặc cho bùn đất lấm lem quần áo mặt mũi, mỗi người một đầu gầm khảo sát. Bổng tôi thấy một vành bu long bắt chặt một cái nắp tròn bằng cái mâm đồng ăn cơm, tôi gọi Tín bò lại và chỉ nó rồi bảo Tín tháo cái mâm này ra. Điều vui mừng tới bất ngờ bởi cái khởi động bằng con lợn con nằm ‘’chình ình ra đó…Tín nhanh chóng tháo và chùi hai đồng xu khởi động, chỉ vừa kịp vặn buloong cuối cùng của nắp chắn tôi đã bảo Hẩu lái xe nổ máy. Tiếng máy nổ rền vang trong tiếng reo vui của mọi người…
Bây giờ kể ra chuyện này có thể ai cũng thấy ngô nghê, lạc lõng quá tầm thường nhưng lúc bấy giờ trong hoàn cảnh chưa tiếp xúc với xe hệ hai bao giờ, lại thêm máy bay quần đảo trên đầu, thời gian gấp gáp, việc tìm thấy cái khởi động cũng là một niệm vui cho anh em tôi rồi, quan trọng hơn là hoàn thành nhiệm vụ có xe để kéo pháo. Đến lúc
ấy chúng tôi mới
thấy khát và đói. Cho đến bây giờ kỷ niệm về “cái khởi đông M113” vẫn rõ mồm
một trong tôi, bài học ở trường là phương pháp, là tư duy, còn bài học ở đời là
sự vận dụng là quyết tâm, là sự bình thản trong mọi tình huống.
Bài truyền qua Mail của Đại Tá Lê Tùng Sơn
ĐỖ
ĐĂNG ĐÍCH
Trên Đất THỦ ĐÔ
Đ ẤT TH ÁNH__H À N ỘI
Thời gian trôi đi mà ta không để ý thì chỉ như một chớp mắt của thế kỷ mà thôi . Hà Nội , Sài Gòn tên các đường phố tôi đi và đây đó tên gọi của chúng đối với ai đó có vẻ như xa xôi như thời Trần Hưng Đạo , Quang Trung , Các tên trường học ai đó nghe cũng xa xôi như Lê Quý Đôn , Lương Thế Vinh và V ân V ân .. Nhưng trong tôi những tên đường phố , tên trường thật gần sát ngay bên mình , và tôi lại nhớ đến những ngày chúng tôi ra trường và đi trên khắp miền của Tổ quốc thân yêu .
Trong nhữngngày hè của năm 1971 gần 300 Kỹ sư
Trên Đất THỦ ĐÔ
Đ ẤT TH ÁNH__H À N ỘI
Thời gian trôi đi mà ta không để ý thì chỉ như một chớp mắt của thế kỷ mà thôi . Hà Nội , Sài Gòn tên các đường phố tôi đi và đây đó tên gọi của chúng đối với ai đó có vẻ như xa xôi như thời Trần Hưng Đạo , Quang Trung , Các tên trường học ai đó nghe cũng xa xôi như Lê Quý Đôn , Lương Thế Vinh và V ân V ân .. Nhưng trong tôi những tên đường phố , tên trường thật gần sát ngay bên mình , và tôi lại nhớ đến những ngày chúng tôi ra trường và đi trên khắp miền của Tổ quốc thân yêu .
Trong nhữngngày hè của năm 1971 gần 300 Kỹ sư
quân sự của Trường Đại học kỹ thuật
quân sự trong buổi Lễ Tốt nghiệp . chúng tôi đón Tướng Vương Thừa Vũ v à Trần
Đại Nghĩa về trường và Đại tá Chính uỷ kiêm Hiệu trưởng Đặng Quốc Bảo cùng
nhiều Đại tá khác trong suốt buổi lễ với bầu không khí hân hoan bởi khoá kỹ sư
quân sự đầu tiên của Việt Nam , buổi lễ thật trịnh trọng tuy không có mũ áo cử
nhân như hôm nay , chỉ những bộ quân phục với quân hàm học viên sỹ quan quân
đội , bởi chúng tôi chưa có quyết định quân hàm cho từng người . Thế mà ,
bây giờ tên các vị tướng ấy đã là
tên đường phố , tên trường học , và có học viên đã là Trưởng khoa của trường
mang tên người làm lễ tốt nghiệp cho mình ; thời gian như ngừng trôi , bởi
chẳng mấy khi chúng tôi nghĩ đến tuổi tác của mình mà chỉ thấy mới như sau một
đợt chiến dịch mà thôi.
Sau lễ tốt nghiệp, chúng tôi trở về doanh trại và tiếp tục tập vượt núi Tam Đảo dựng đứng để chuẩn bị cho Những ngày Vượt Trường Sơn khi có lệnh vào chiến trường Miền Nam . Lại là những ngày gian khổ mới khi mà đường vượt của chúng tôi tuy ngắn hơn đường vượt của Sư đoàn 312 nhưng dốc núi dựng đứng và đường hành quân hiểm trở __-một con đường vạch theo bản đồ tác chiến đột nhập hẳn Tam Đảo bất chấp núi đứng dựng thách đố người lính trẻ sung sức , cùng ba lô và hành trang tới 30 kg . Gian khổ bấy giờ của chúng tôi cũng vợi đi và được khích lệ bởi các đoàn tàu hoả chở Xe tăng chiều chiều từ Ga Vĩnh Yên chạy trên đường sắt mà trên khu nhà bốn tầng xây dở dang
Sau lễ tốt nghiệp, chúng tôi trở về doanh trại và tiếp tục tập vượt núi Tam Đảo dựng đứng để chuẩn bị cho Những ngày Vượt Trường Sơn khi có lệnh vào chiến trường Miền Nam . Lại là những ngày gian khổ mới khi mà đường vượt của chúng tôi tuy ngắn hơn đường vượt của Sư đoàn 312 nhưng dốc núi dựng đứng và đường hành quân hiểm trở __-một con đường vạch theo bản đồ tác chiến đột nhập hẳn Tam Đảo bất chấp núi đứng dựng thách đố người lính trẻ sung sức , cùng ba lô và hành trang tới 30 kg . Gian khổ bấy giờ của chúng tôi cũng vợi đi và được khích lệ bởi các đoàn tàu hoả chở Xe tăng chiều chiều từ Ga Vĩnh Yên chạy trên đường sắt mà trên khu nhà bốn tầng xây dở dang
, hoặc đâu đó trước cổng trường , khi ‘hoàng
hôn gần buông hoặc khi chiều miền trung du đầy gió .
Sau nhận quyết đinh quân hàm vào hàng ngũ Sỹ Quan Quân đội , chúng tôi nhận ngay địa điểm nhận công tác ,rồi lần lượt rời khỏi mái trường Đại học đầy kỷ niệm này ..
Tôi được nhận Quân hàm Thiếu uý cùng giới thiệu chung về Trạm 66 Bộ Quốc phòng tại Hà Nội .
Lần lượt chúng tôi đi nhận nhiệm vụ về những đơn vị khác nhau , từ đó bắt đầu những chặng đường mới trên vai trách niệm của một kỹ sư quân sự cùng với sự trưởng thành vợt bậc qua năm năm học tập và rèn luyện trong trường với lòng yêu thương và tin tưởng của Bộ Quốc phòng . Về trạm 66 nhận nhiêm vụ ,trong đại đội của tôi , tôi thấy có mình tôi và đợi cho đến cuối cùng mới được đồng chí phụ trách phân công cán bộ của Tổng Cục kỹ thuật phân công cho tôi và anh Nguyễn Văn Trình đại đội chuyên tu khóa 1 về Cục Vật tư ở Bưởi .
Hai anh em chúng tôi một Trung úy , một Thiếu úy Kỹ sư quân sự được thông báo về Cơ quan Cục ; Trạm 66, đi bộ đoạn ngắn chúng tôi đeo ba lô lên Tàu Điện bên vườn hoa về Bưởi .
Cục Vật tư bấy giờ sát ngay bên bờ Hồ Tây,đối diện ở bờ bên kia là khách sạn Thắng Lợi nhô ra soi mình xuống mặt hồ xanh trong .
Anh Trình được quyết định Trạm Trưởng xuống Trạm Sửa chữa của Cục bên Gia Lâm , còn tôi nhận quyết định Trợ lý Xây dựng Nhà máy của Phòng Tổ chức –Kế hoạch Cơ quan Cục với bản đánh máy và chữ ký của Thượng Tá –Cục trưởng Trần Ngọc Giao .
Cũng trong khi đợi ở gian nhà lá chờ gọi là phòng khách tôi ngẫu nhiên gặp lại Nhơn người Quảng Bình cùng tiểu đoàn huấn luyện Hải Quân ở Căn cứ II –năm xưa - Trung úy , cũng đang chờ vào Cục để nhận quyết đinh , theo Nhơn nói là để đi B , và bấy giớ nói là đang làmChính trị viên của xưởng Sản xuất Sơn và Khí Ô-Xy của Cục dưới Kiêu Kỵ --Phú Thụy Hưng Yên . Xưởng này về sau tôi được biết cũng từ Quân chủng Hải Quân chuyển giao sang để hợp thành nhà máy mà tôi làm trợ lý xây dựng khi đó chỉ có xưởng giao sang . Và Nhơn và tôi chỉ nhận nhau sau gần 10 năm từ khi rời tiểu đoàn huấn luyên để xuống tàu và đi các đơn vị bờ biển ; không kịp chuyện gì thì tôi và Anh Trình vào Cuc còn mình Nhơn ngồi chờ ; rồi tôi đoán rằng : Nhơn đã đi học Sỹ quan năm 1964 trường sỹ quan Hải quân –trường 45
Sau nhận quyết đinh quân hàm vào hàng ngũ Sỹ Quan Quân đội , chúng tôi nhận ngay địa điểm nhận công tác ,rồi lần lượt rời khỏi mái trường Đại học đầy kỷ niệm này ..
Tôi được nhận Quân hàm Thiếu uý cùng giới thiệu chung về Trạm 66 Bộ Quốc phòng tại Hà Nội .
Lần lượt chúng tôi đi nhận nhiệm vụ về những đơn vị khác nhau , từ đó bắt đầu những chặng đường mới trên vai trách niệm của một kỹ sư quân sự cùng với sự trưởng thành vợt bậc qua năm năm học tập và rèn luyện trong trường với lòng yêu thương và tin tưởng của Bộ Quốc phòng . Về trạm 66 nhận nhiêm vụ ,trong đại đội của tôi , tôi thấy có mình tôi và đợi cho đến cuối cùng mới được đồng chí phụ trách phân công cán bộ của Tổng Cục kỹ thuật phân công cho tôi và anh Nguyễn Văn Trình đại đội chuyên tu khóa 1 về Cục Vật tư ở Bưởi .
Hai anh em chúng tôi một Trung úy , một Thiếu úy Kỹ sư quân sự được thông báo về Cơ quan Cục ; Trạm 66, đi bộ đoạn ngắn chúng tôi đeo ba lô lên Tàu Điện bên vườn hoa về Bưởi .
Cục Vật tư bấy giờ sát ngay bên bờ Hồ Tây,đối diện ở bờ bên kia là khách sạn Thắng Lợi nhô ra soi mình xuống mặt hồ xanh trong .
Anh Trình được quyết định Trạm Trưởng xuống Trạm Sửa chữa của Cục bên Gia Lâm , còn tôi nhận quyết định Trợ lý Xây dựng Nhà máy của Phòng Tổ chức –Kế hoạch Cơ quan Cục với bản đánh máy và chữ ký của Thượng Tá –Cục trưởng Trần Ngọc Giao .
Cũng trong khi đợi ở gian nhà lá chờ gọi là phòng khách tôi ngẫu nhiên gặp lại Nhơn người Quảng Bình cùng tiểu đoàn huấn luyện Hải Quân ở Căn cứ II –năm xưa - Trung úy , cũng đang chờ vào Cục để nhận quyết đinh , theo Nhơn nói là để đi B , và bấy giớ nói là đang làmChính trị viên của xưởng Sản xuất Sơn và Khí Ô-Xy của Cục dưới Kiêu Kỵ --Phú Thụy Hưng Yên . Xưởng này về sau tôi được biết cũng từ Quân chủng Hải Quân chuyển giao sang để hợp thành nhà máy mà tôi làm trợ lý xây dựng khi đó chỉ có xưởng giao sang . Và Nhơn và tôi chỉ nhận nhau sau gần 10 năm từ khi rời tiểu đoàn huấn luyên để xuống tàu và đi các đơn vị bờ biển ; không kịp chuyện gì thì tôi và Anh Trình vào Cuc còn mình Nhơn ngồi chờ ; rồi tôi đoán rằng : Nhơn đã đi học Sỹ quan năm 1964 trường sỹ quan Hải quân –trường 45
Quảng Yên – Quảng Ninh mà năm đó
tôi đã xin ở lại Khu Tuần phòng Hải Phòng không đi học , sau khi rời đoàn không
số xuống tàu Tan-kít rồi lên trạm sửa chữa Hải Phòng .
NHỚ
NHỮNG NGÀY
BÊN
BỜ HỒ TÂY
Sau những năm thiết kế và chỉ huy thi công nhà máy T 606 cục Vật Tư bấy giờ , năm 1974 tôi nhận quyết đinh về lại Cục Phòng Tổ chức kế hoạch sau khi hoàn thành lắp đặt xong toàn bộ hệ thồng cung cấp và phân phối mạng Điện Hạ Áp cho Nhà máy để thiết kế tiếp theo hệ thống chiếu sang cho dãy nhà 2 tầng làm khu nhà Hành chính T-606 .
Sau những năm thiết kế và chỉ huy thi công nhà máy T 606 cục Vật Tư bấy giờ , năm 1974 tôi nhận quyết đinh về lại Cục Phòng Tổ chức kế hoạch sau khi hoàn thành lắp đặt xong toàn bộ hệ thồng cung cấp và phân phối mạng Điện Hạ Áp cho Nhà máy để thiết kế tiếp theo hệ thống chiếu sang cho dãy nhà 2 tầng làm khu nhà Hành chính T-606 .
Vừa thiết kế xong thì Cục giao cho
tôi và anh Hồ Ngọc An Trợ lý –Trung úy –Kỹ sư xây dựng , thiết kế và hướng dẫn
thi công một khu làm việc , nghỉ ,và họp phụ của Tồng bí Thư Lê Duần trên khu
đất kề bên cơ quan Tôi bấy giờ , và được biết để T.B.T khi cần thiết yên tĩnh ,
xa Thủ phủ khi làm việc , lúc nghỉ ngơi hay các cuộc họp .
Tôi nhận trách nhiệm thiết kế và hướng dẫn thi công toàn bộ hệ thống điện , nước trong nhà , các phòng : phòng ngủ ,phòng khách , phòng họp cũng như khu vực nhà của các chuyên viên phục vụ ; chiếu sáng ngoài trời cho toàn khu nhà .
Thiết kế ánh sáng cũng như cấp nước cùng thiết bị Điện nội thất bấy giờ chúng tôi được phê duyệt trực tiếp với Cục Trưởng trên Bản vẽ thiết kế vật liệu trong ( Bản chính – trên Giấy Can) . Để bảo đảm thiết kế đ ược chắc chắn cho khu nhà , tôi phải tìm học ,vừa đọc,
vừa thiết kế ,vừa học giáo trình Thiết kế ánh sáng đèn huỳnh quang trong nhà cũng như thiết kế ánh sáng ngoài trời , cho
còn đang thời chiến tranh ác liệt
nên nghĩ trong bụng sao xứng với người đi chiến trường ..
Trong những ngày Thiết kế bên Hồ Tây , chúng tôi được gặp Tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm trước tiên khi đến Cục vì bộ phận chúng tôi là bộ phận kỹ thuật gồm ác Kỹ sư và vài cô Thợ Can .
Tôi còn nhớ : hôm đó , đang mải vẽ tạo dáng một đèn góc nhà ánh sáng phản chiếu , không để ý đến trước phòng cục Trưởng có Đại Tướng đến , khi có Cục trưởng vào Đại tường cùng vài cán bộ đi theo
Tôi nhận trách nhiệm thiết kế và hướng dẫn thi công toàn bộ hệ thống điện , nước trong nhà , các phòng : phòng ngủ ,phòng khách , phòng họp cũng như khu vực nhà của các chuyên viên phục vụ ; chiếu sáng ngoài trời cho toàn khu nhà .
Thiết kế ánh sáng cũng như cấp nước cùng thiết bị Điện nội thất bấy giờ chúng tôi được phê duyệt trực tiếp với Cục Trưởng trên Bản vẽ thiết kế vật liệu trong ( Bản chính – trên Giấy Can) . Để bảo đảm thiết kế đ ược chắc chắn cho khu nhà , tôi phải tìm học ,vừa đọc,
vừa thiết kế ,vừa học giáo trình Thiết kế ánh sáng đèn huỳnh quang trong nhà cũng như thiết kế ánh sáng ngoài trời , cho
còn đang thời chiến tranh ác liệt
nên nghĩ trong bụng sao xứng với người đi chiến trường ..
Trong những ngày Thiết kế bên Hồ Tây , chúng tôi được gặp Tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm trước tiên khi đến Cục vì bộ phận chúng tôi là bộ phận kỹ thuật gồm ác Kỹ sư và vài cô Thợ Can .
Tôi còn nhớ : hôm đó , đang mải vẽ tạo dáng một đèn góc nhà ánh sáng phản chiếu , không để ý đến trước phòng cục Trưởng có Đại Tướng đến , khi có Cục trưởng vào Đại tường cùng vài cán bộ đi theo
đến hiên trước phòng , tôi mới bỏ cây
chì nhìn ra thì Đại Tướng đã đứng ngay cạnh bàn làm việc của tôi và hỏi :__
Đồng chí học gì ?
Tôi lúng túng không biết trả lời thế nào , bởi vì khi đó tôi đang vẽ hình dáng đèn góc phản xạ riêng cho phòng ngủ của Khu B ( Khu B để chỉ khu nhà của Tổng Bí Thư đang được xây ) , Nó có hình dáng kiến trúc chẳng quan hệ gì đến nhiệm vụ một việc kỹ thuật của cục Vật Tư ; Tôi chỉ biết trả lời ;
-- Tôi học ở Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự .
Đại Tướng ngạc nhiên hỏi :
--Kỹ thuật Quân sự sao lại làm cái này ?
Tôi chưa biết trả lời ra sao thì đứng ngay sau
Đại Tướng là Cục Trưởng
Ông rất nhanh trí và trả lời ngay :
--Việc này cũng thuộc về Điện .
Đại tướng rời khỏi bàn tôi và bắt đầu thăm hỏi từng người từ chuyên môn cho đến nơi tốt nghiệp rất thân tình và quan tâm .
Tôi gặp Đại Tướng lần đầu đã để lại trong tôi lòng kính phục và yêu mến bởi sự gần gũi , tác phong gọi là rất quần chúng đượm một màu thân thiết tình đồng chí không phân biệt ông là chỉ huy và ở cương vị thống lĩnh quân đội nhân dân việt nam . . những năm ấy Đại Tướng không khỏe ,. người gầy và thường hay xuống Cục tôi để bơi thuyền và nghỉ ngơi bên bờ Hồ Tây này yên tĩnh và mát …
Công việc xây khu nhà đang tiến hành lắp hệ thống điện thì chiến dịch đánh chiếm tây nguyên diễn ra ác liệt , nhưng chúng tôi ở ngoài Thành và là bộ phận Kỹ thuật nên không biết tin gì từ Cục Tác chiến .
Một chiều ,tôi từ khu B về phòng gửi cặp bảo mật để thể thao chiều thì một cô văn thư thân với tôi bảo rằng
__Anh có quyết định đi B đấy .Tôi nói: :
__Không biết , mình vừa bên Khu B về !
Hôm sau , Tôi thấy quyết định anh bạn – Trung úy Lê Đình Tấn cũng cấp với tôi – Kỹ sư cơ khí chế tạo Bách khoa Hà Nôi khóa 7 . nhận quyết định cùng Cục Phó Ngô Kỷ đi B .
Đó là khi vừa giải phóng xong Ban Mê Thuột và Cục Phó và một kỹ sư giỏi , có năng lực và biết ngoaị ngữ đi để thu hồi toàn bộ vật tư và chiến lợi phẩm sau khi quân ngụy tháo chạy .
Khi từ Ban Mê về mang về Cục trước khi chuyển tổng cục , tôi mới mục sở thị bộ Grande La Rouss của Tiếng Pháp mà trước đây chỉ có trong thư viện cuốnPetite La Rouss . Nó gồm 24 cuốn khổ Letter ,mỗicuốn cho một chữ cái Pháp ngữ .
Khi đó ,biết có quyết định đi B là văn bản cô văn thư đánh máy để xin chữ ký đ ể xin ch ữ k ý C ục tr ư ởng nói cho tôi biết ; nhưng bấy giờ phải dừng công việckhu B , nếu tôi đi Ban –Mê- Thuột như điềuđộngcủaphòng cán bộ -chính trị Cục .
Kể từ khi giải phóng Ban Mê Thuột , cuộc tiến công giải phóng miền nam và đánh vào Sài Gòn dần dần bắt đầu vào chiến dịch mới mà mãi sau này mới gọi là Chiến dịch Hồ Chí Minh , chúng tôi vẫn tiếp tục phải hoàn thành công trình xây dựng của bộ giao cho Cục chúng tôi . Trong thời gian gọi là Chiến Dịch Hồ Chí Minh ,chúng tôi cũng đã hoàn thành xong khu B của Bộ Quốc phòng giao cho.
Trong những ngày đầu hoàn thành sau giải phóng Sài gòn , tôi cũng đã được gặp Tổng bí thư Lê Duẩn vừa từ Sài gòn ra đến xem , kiểm tra Khu B , có khi bằng Xuồng máy từ phía bờ Khách sạn Thắng Lợi sang , có khi đi Ôtô vừa lấy từ phía nam ra .
_Trong một ngày nghỉ , Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khi đi nghỉ bằng Pê-Rit-Xoa từ phía khách sạn ghé lên Khu B Phía ngoài Khu B cạnh đường là một trường tiểu học . khi biết Thủ Tướng đến thăm khu B, Các cháu học sinh tiểu học quanh đấy gọi nhau đến xúm quanh Thủ Tưứng và Thủ tướng thân mật chuyên trò thăm hỏi .Khi đó Thủ Tướng gầy gò lắm .
Những lần đi bên Tổng Bí Thư và Thủ Tướng trong Khu B đã cho tôi một cảm nhận tốt đẹp về các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam chúng ta ; đó là sự gần gũi nhân dân và được nhân dân tin tưởng , yêu mến , nhất là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Từ người già , trẻ nhỏ ai ai cũng kính trọng và yêu mến .
Đối với Đại Tướng đã để lại trong tôi một tác phong giản dị , sâu sát của một chỉ huy , một Tướng lĩnh gần gũi với mọi cấp sỹ quan trong quân đội nhân Dân việt Nam .
Một Bản lĩnh Tướng Soái Việt Nam .
Cho đến bây giờ tôi mới hình dung ra những nẻo đường các kỹ sư quân sự khóa 1 , sau khi ra trường tỏa đi khắp đơn vị quân đội phục vụ cho cuộc kháng chiến giành độc lập tự do trong giai đoạn vũ khí và phương tiện chiến tranh là quan trọng nhất ; chúng tôi người đi chiến trường , người ở lai hậu phương trong các cơ quan khoa học và kỹ thuật để xây dựng một hậu thuẫn kỹ thuật quân sự trong cuộc chiến .
Trong những ngày vừa về Cục , tôi gặp Lê Kinh Tuyến ở Viện Nghiên cứu Kỹ thuật quân sự khi tôi sang tham dự , nghe một hội thảo và báo cáo Đề tài Nghiên cứu của Viện . Có thể nghĩ rằng các kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam không những có mặt trên các chiến trường , các quân đoàn , binh trạm và cả trên thủ đô đều đóng góp hết sức mình để đi đến thắng lợi 30 tháng 4 1975 , xứng đáng là đầu đàn của Học viện hôm nay .
Y ên B ình v à
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
Vừa tốt nghiệp ra trường , tôi được điều động làm trợ lý xây dựng nhà máy và lao vào công việc bổ
túc tri thức loại hình thiết kế mà
trong trường chúng tôi chỉ được học theo hệ kỹ thuật quốc gia bấy giờ . cho nên
, khi Thiết kế các phân xưởng sửa chữa cũng như thiết kế các hệ thống Dân sự ,
tôi phải “tự” đào tạo ;¬học và nghiên cứu phù hợp với các công trình dân sự
mang tính quốc phòng chứ không phải các trận địa tên lửa hay Pháo 100 , hay một
trận địa RA Đa nào đó . Trong đó cần tự học và nghiên cứu thiết kế nhà máy ,
phân xưởng Sản xuất và sửa chữa Công nghiệp! …; Tôi lúng túng không biết trả lời thế nào , bởi vì khi đó tôi đang vẽ hình dáng đèn góc phản xạ riêng cho phòng ngủ của Khu B ( Khu B để chỉ khu nhà của Tổng Bí Thư đang được xây ) , Nó có hình dáng kiến trúc chẳng quan hệ gì đến nhiệm vụ một việc kỹ thuật của cục Vật Tư ; Tôi chỉ biết trả lời ;
-- Tôi học ở Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự .
Đại Tướng ngạc nhiên hỏi :
--Kỹ thuật Quân sự sao lại làm cái này ?
Tôi chưa biết trả lời ra sao thì đứng ngay sau
Đại Tướng là Cục Trưởng
Ông rất nhanh trí và trả lời ngay :
--Việc này cũng thuộc về Điện .
Đại tướng rời khỏi bàn tôi và bắt đầu thăm hỏi từng người từ chuyên môn cho đến nơi tốt nghiệp rất thân tình và quan tâm .
Tôi gặp Đại Tướng lần đầu đã để lại trong tôi lòng kính phục và yêu mến bởi sự gần gũi , tác phong gọi là rất quần chúng đượm một màu thân thiết tình đồng chí không phân biệt ông là chỉ huy và ở cương vị thống lĩnh quân đội nhân dân việt nam . . những năm ấy Đại Tướng không khỏe ,. người gầy và thường hay xuống Cục tôi để bơi thuyền và nghỉ ngơi bên bờ Hồ Tây này yên tĩnh và mát …
Công việc xây khu nhà đang tiến hành lắp hệ thống điện thì chiến dịch đánh chiếm tây nguyên diễn ra ác liệt , nhưng chúng tôi ở ngoài Thành và là bộ phận Kỹ thuật nên không biết tin gì từ Cục Tác chiến .
Một chiều ,tôi từ khu B về phòng gửi cặp bảo mật để thể thao chiều thì một cô văn thư thân với tôi bảo rằng
__Anh có quyết định đi B đấy .Tôi nói: :
__Không biết , mình vừa bên Khu B về !
Hôm sau , Tôi thấy quyết định anh bạn – Trung úy Lê Đình Tấn cũng cấp với tôi – Kỹ sư cơ khí chế tạo Bách khoa Hà Nôi khóa 7 . nhận quyết định cùng Cục Phó Ngô Kỷ đi B .
Đó là khi vừa giải phóng xong Ban Mê Thuột và Cục Phó và một kỹ sư giỏi , có năng lực và biết ngoaị ngữ đi để thu hồi toàn bộ vật tư và chiến lợi phẩm sau khi quân ngụy tháo chạy .
Khi từ Ban Mê về mang về Cục trước khi chuyển tổng cục , tôi mới mục sở thị bộ Grande La Rouss của Tiếng Pháp mà trước đây chỉ có trong thư viện cuốnPetite La Rouss . Nó gồm 24 cuốn khổ Letter ,mỗicuốn cho một chữ cái Pháp ngữ .
Khi đó ,biết có quyết định đi B là văn bản cô văn thư đánh máy để xin chữ ký đ ể xin ch ữ k ý C ục tr ư ởng nói cho tôi biết ; nhưng bấy giờ phải dừng công việckhu B , nếu tôi đi Ban –Mê- Thuột như điềuđộngcủaphòng cán bộ -chính trị Cục .
Kể từ khi giải phóng Ban Mê Thuột , cuộc tiến công giải phóng miền nam và đánh vào Sài Gòn dần dần bắt đầu vào chiến dịch mới mà mãi sau này mới gọi là Chiến dịch Hồ Chí Minh , chúng tôi vẫn tiếp tục phải hoàn thành công trình xây dựng của bộ giao cho Cục chúng tôi . Trong thời gian gọi là Chiến Dịch Hồ Chí Minh ,chúng tôi cũng đã hoàn thành xong khu B của Bộ Quốc phòng giao cho.
Trong những ngày đầu hoàn thành sau giải phóng Sài gòn , tôi cũng đã được gặp Tổng bí thư Lê Duẩn vừa từ Sài gòn ra đến xem , kiểm tra Khu B , có khi bằng Xuồng máy từ phía bờ Khách sạn Thắng Lợi sang , có khi đi Ôtô vừa lấy từ phía nam ra .
_Trong một ngày nghỉ , Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khi đi nghỉ bằng Pê-Rit-Xoa từ phía khách sạn ghé lên Khu B Phía ngoài Khu B cạnh đường là một trường tiểu học . khi biết Thủ Tướng đến thăm khu B, Các cháu học sinh tiểu học quanh đấy gọi nhau đến xúm quanh Thủ Tưứng và Thủ tướng thân mật chuyên trò thăm hỏi .Khi đó Thủ Tướng gầy gò lắm .
Những lần đi bên Tổng Bí Thư và Thủ Tướng trong Khu B đã cho tôi một cảm nhận tốt đẹp về các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam chúng ta ; đó là sự gần gũi nhân dân và được nhân dân tin tưởng , yêu mến , nhất là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Từ người già , trẻ nhỏ ai ai cũng kính trọng và yêu mến .
Đối với Đại Tướng đã để lại trong tôi một tác phong giản dị , sâu sát của một chỉ huy , một Tướng lĩnh gần gũi với mọi cấp sỹ quan trong quân đội nhân Dân việt Nam .
Một Bản lĩnh Tướng Soái Việt Nam .
Cho đến bây giờ tôi mới hình dung ra những nẻo đường các kỹ sư quân sự khóa 1 , sau khi ra trường tỏa đi khắp đơn vị quân đội phục vụ cho cuộc kháng chiến giành độc lập tự do trong giai đoạn vũ khí và phương tiện chiến tranh là quan trọng nhất ; chúng tôi người đi chiến trường , người ở lai hậu phương trong các cơ quan khoa học và kỹ thuật để xây dựng một hậu thuẫn kỹ thuật quân sự trong cuộc chiến .
Trong những ngày vừa về Cục , tôi gặp Lê Kinh Tuyến ở Viện Nghiên cứu Kỹ thuật quân sự khi tôi sang tham dự , nghe một hội thảo và báo cáo Đề tài Nghiên cứu của Viện . Có thể nghĩ rằng các kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam không những có mặt trên các chiến trường , các quân đoàn , binh trạm và cả trên thủ đô đều đóng góp hết sức mình để đi đến thắng lợi 30 tháng 4 1975 , xứng đáng là đầu đàn của Học viện hôm nay .
Y ên B ình v à
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
Vừa tốt nghiệp ra trường , tôi được điều động làm trợ lý xây dựng nhà máy và lao vào công việc bổ
Những ngày nóng nực dưới trời Thủ đô , đúng là nắng lửa , đúng vào dịp chiến tranh phá hoại của miền Bắc của Mỹ leo đến mức ác liệt và chúng kiên quyết nhất , trường Đại Học Bách khoa phải tạm dừng học tập để sang phục vụ quân đội . Đó cũng là thuận lời cho tôi khi vừa ra trường và cùng phối hợp với các giảng viên Đại học Bách khoa cùng thiết kế và bảo vệ thiết kế , cũng như sự kiểm soát thiết kế của tôi bấy giờ do một vài Phó tiến sỹ phối hợp .
Công việc thiết kế nhiều , bản vẽ lắm , nơi làm việc không thể tập trung và khó có thể xa Hà Nội đến nơi sơ tán của Bách khoa , , nên tôi làm việc ở cơ quan bên bờ hồ tây phia Bưởi thường phải đi theo dõi và phối hợp trong trường Bách khoa cuối đường tàu điện , nhưng chiến tranh không thể ngồi tầu điện mà phải cuốc bộ đi làm việc bởi mới về cơ quan chưa có xe đạp phân phối để công tác . Đó cũng là những tháng ngày cũng tốn nhiều sức lực trong khi đó các đồng đội tôi , bây giờ tôi mới biết , rất đông đang lăn lộn trên chiến trường Miền nam và các quân đoàn cơ động , còn tôi chỉ mệt nhoài giữa Thủ đô mà thôi . .
Ở Hà Nội cho đến khi tôi chuyển ngành ra ngoài , những ngày Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống Thủ đô ta cũng là những ngày không thể nào quên của tôi trên đất Thăng Long Hà Nội .,cùng với những năm tháng sống trong lòng Hà Nội .
KHÔNG ĐỀ
Những người con được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội rổi rời Hà Nội đi chiến đấu ,cũng như những người con của Hà Nội từ miền đồng bằng Hồng Hà lân cận về Thăng Long trong sắc phục quân đội Nhân dân V.N qua trọn vẹn cuộc chiến tranh vệ quốc và giải phóng dân tộc Việt Nam , trong thế kỷ 21 này người Nam kẻ Bắc , người trên Thủ đô , hết thảy đề tự hào về Thủ đô thân yêu của chúng ta , biết bao vui buồn , kỷ niệm và tình yêu .
Tôi nhớ lại Nguyễn Huy Tưởng với những Tiểu thuyết “ Sống mãi với Thủ Đô “ và Trong lòng Hà nội “ ___ tiểu thuyết như một anh hùng ca của thế hệ trẻ cha anh chúng ta , những thanh niên thủ đô bất khuất , và như vậy nghĩ về Những người ra đi chiến đấu từ Thủ đô và được về Thủ đô trong Bộ đội Việt Nam đã nối gót được người xưa nhưng trên khắp mọi chiến trường dọc theo mảnh đất việt Nam dài và hẹp với dải Trường Sơn trùng điệp hàng ngàn cây số từng đoạn uồn mình quanh sát biển Việt Nam cũng làm nên nhiều huyền thoại trên rừng dưới biển .
Tôi về Thủ Đô từ khi là một Binh nhất Hải quân và rồi sau mấy năm là Trung sỹ Hải quân với những lớp học ngắn ngày cả về Văn hóa ,cả về thể thao, cả về kỹ thuật vài tháng , cả trong hòa bình , cả trong chiến tranh .Hà nội gần 10 năm trong nhiệm vụ Sỹ quan kỹ sư kỹ thuật quân sự thì những kỷ niệm ký ức về công việc , bạn bè không phai cho dù năm tháng đã thay màu sắc : chiến tranh , hòa bình . kinh tế , quân sự trong một thời đại nào cũng thế mà thôi .
Có lẽ , tình bạn , tình đồng chí , tình thày trò của chúng tôi trong Khóa đầu của Học viện Kỹ thuật Quân sự hôm nay có đặc thù riêng không khóa nào , trường nào , thời nào có ; bởi đó là tình đồng chí từ khắp miền Bắc trong 3 quân chủng khoác ba lô rời vị trí chiến đấu tập luyện về trường trong niềm tin của Bộ quốc phòng và đồng đội cùng nhau cùng một tuổi thanh xuân đầy ước mơ hoài bão cống hiến cho đất nước đang hừng hực khí thế cách mạng của nửa sau thế kỷ thứ 20 , tình cảm đồng đội , bạn bè bắt nguồn từ những người lính không có gì ngoài tình yêu và ước vọng , cho nên vô tư đến ngây thơ trước cuộc sống đời thường .
Những năm cuối của khóa học tốp cùng tiểu đội tôi ở Vĩnh yên có “ Ngô Ngọc Vĩnh , Nguyễn Ánh Sáng và Nguyễn Văn Đáo ; tình đồng đội trong những năm đèn sách còn theo tôi trong những năm sống trong lòng Hà Nội.
Chuyện xem ra chẳng có gì đáng kể , nhưng tôi nghĩ đó là những mẩu đới mất mát và thiệt thòi trong một đất nước như nước ta và với người lính , người sỹ quan quân đội như một hy sinh thầm lặng mà có chiến công cũng dựng lên trên những đau khổ nơi hậu phương trên tay người vợ hiền và bé thơ ..
Khi ra trường và trước khi đi B Vĩnh cưới Dương Vân Kim con gái thứ trưởng Dương Bạch Liên tôi không dự và cũng không hay , chỉ biết họ yêu nhau khi tôi và Vĩnh cùng đóng quân ở Văn Tiến , trong một cái buồng đầu trái chỉ vừa đủ cho 2 phản cá nhân tôi và Vĩnh để cùng nhau đèn sách , có khi cùng về Hà nội và chúng tôi qua nhà Vân Kim ở 67 Nguyễn Thái Học . Năm 1971 hoặc đầu 1972 gì đó . Kim sinh con trai đầu lòng khi Vĩnh đang trong chiến trường Nam bộ , tôi không biết ở đâu . Một chủ nhật tôi đến thăm Kim và bé con Vĩnh thì thật mừng vì bé giống Vĩnh hơn một tượng do một nghệ sỹ ưu tú tạc cho .
Tưởng như sẽ là tốt đẹp và hạnh phúc với một cháu ngoại của một Thứ trưởng thứ nhất ; nhưng thực tế phũ phàng đã đảo ngược niềm hạnh phúc kia .
Chừng hơn 4 tháng sau cũng một ngày chủ nhật tôi ghé qua 67 Nguyễn Thái Học để thăm Bé con Vĩnh ; nhưng thật không ngờ , chỉ vì thiếu sữa mẹ , phải dung sữa bò cho ăn ngoài , nhưng sự vô trách nhiệm của bảo mẫu nhà trẻ , vì khi đó Kim phải đi làm trong xí nghiệp Ô-Tô 1 . 5 Hà Nội . Bé bị đi ỉa mất nước và lìa khỏi cõi trần trong khi người thân sinh xa biền biệt nơi quân ngũ .
Nhưng số phận con người còn nghiệt ngã hơn với Vĩnh và Kim khi Bé trai thứ 2 .
Một sáng đầu tuần trước khi đến giờ làm việc , chúng tôi ngồi chuyện phiếm ,uống trà bốn hào rưỡi – chè nước văn phòng thuở ấy ; nói chuyện về bạn bè tôi , Đào Kim Chi Kỹ sư ô tô bách khoa khóa 7 , nhân vì nhắc đến việc đến thăm nhà Vĩnh, Kim khi đã chuyển về Lê Phụng Hiểu – Hà Nội , Chi nói : Cháu nội Ông Ngộ chết rồi còn đâu ! , Chi biết , vì Chi không ở trong doanh trại cơ quan mà vì được ở tại gia với bố là Vụ Trưởng ở bộ Tài chính cùng bộ mà bố Vĩnh là VụTrưởng . Nghe tin ấy tôi bán tín bán nghi , ngay sau đó , chủ nhật nghỉ , tôi đến Lê Phụng Hiểu và Kim nói rằng cháu cũng bị mất nước và bỏ đi . Thật bất ngờ , vài tháng trước đó tôi đến chơi Bé đã đâu 1 năm tuổi, trắng và đẹp .
Trước khi về ở Lê Phụng Hiểu ,Tôi có đến chơi với Vĩnh ở Nguyễn Thái Học khi vừa ở đơn vị xa về Hà Nội ; từ đó đến nay chúng tôi bặt tin do tôi ít có dịpđi ra phố Hà nội mà tập trung làm việc trong cơ quan và ngày nghỉ lại phải đạp xe về Nam Định thăm nom vợ con và mẹ già , rồi tồi về Nam Định khi mấy cơ quan bộ Ngoại thương và Ty Lao động Hà nội không chắc cho cả vợ con tôi về Hà Nội và rồi về hẳn Nam Định sau khi Tổng cục kỹ thuật xem xét và đồng ý cho chuyển ngành sau khi hai anh điều phối Cán bộ đồng cấp với tôi , một phụ trách cán bộ khu vực Hà Nội , một phụ trách Cán bộ Khoa học kỹ thuật , thuyết phục tôi không chuyển ngành , Tôi thấy trong việc điều động đi nơi khác là một điều động đầy tính cá nhân, tiêu cực chất đầy nên dự tính xin về nơi khác Tổng cục kỹ thuật , nhưng rồi tôi có quyết định của Tổng cục – Ban chính sách đồng ý , tôi về hẳn Nam Định sau 4 năm đeo quân hàm trung úy ở Hà Nội .
. TRONG 12 NGÀY ĐÊM
HÀ NỘI DƯỚI BOM MỸ
Cuộc chiến tranh phá hoại Miền Bắc Việt Nam của Mỹ đang ở gian đoạn ác liệt nhất thì chúng tôi trong trường , khi tốt nghiệp , có thời gian bọn mỹ buộc phải tuyên bố “ném bom hạn chế “ bởi vì càng dung nhiều phi cơ pháo đạn dội xuống miền Bắc càng thiệt hại gấp bội mà không khuất phuck nổi Việt Nam ta , còn bị thế giới lên án . trong thời gian mỹ ném bom hạn chế trên một số tuyến đường phia bắc vào Nam Đoàn quân của các kỹ sư quân sự khóa 1 như Lê Tùng Sơn đã viết : dong cờ sao vàng trên nền xanh đỏ tranh thủ đi ngày đi đêm vào sâu trong chiến trường Đông Nam Bộ , còn trong lòng Thủ đô Hà Nội nhân dân yên ổn và tranh thủ những ngày hòa bình để sản xuất và xây dựng kinh tế , Đường phố tương đối thanh bình và Tôi tranh thủ tối đa thời gian để học
thêm , đọc thêm các giáo trình Đại học phục vụ cho nhiệm vụ thiết kế , cũng như học tại chức Tiếng Anh trong trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội , đồng thời học lại phần đầu phát âm tiếng Pháp đã học từ thời Pháp thuộc và ngay sau hòa bình 1954 ở Nam Định . Công tác , học tập bấy giờ tuy vất vả , hiếm thời gian nhưng là niềm đam mê của chúng tôi trong lòng Hà Nội .
Nhưng chẳng bao lâu . Tháng 12 năm 1972 , thua trên chiến trường Nam việt , Mỹ dùng Máy bay chiến lược B52 naém bom tàn phá Thủ Đô , Mỹ nhằm mục tiêu san bằng thủ đô Hà Nội để giành
thế thắng trong hội nghị Paris họp
giữa Mỹ và 2 ngoại giao đoàn Bắc Nam , nhưng thực tế đã đảo ngược mong muốn của
Mỹ . tôi không nhớ trong ngày thứ mấy của 12 ngày đêm Mỹ dội bom từ Máy bay B52
xuống .
Hôm đó khoảng đêm về sáng , còi áo động của Thành 0phố rúc một hồi dài báo động Máy bay bay bào ném bom tHà Nội . Tôi đang ngủ trong phòng vừa làm việc vừa ngủ của bộ phận \quân lực Phòng tổ chức kế hoach cục , bên ven Hồ Tây , nghe còi tôi chạy vào hầm để ngồi ngủ tiếp , hầm chữ A bằng tra phủ dầy lớp đất . Hầm tôi trú được 3 người ngay đầu hồi ngoài sân . Lúc đầu chúng tôi nghĩ Bọn Mỹ sẽ không ném xuống rìa Hồ Tây nơi cơ quan Cục nên tôi buồn ngủ,vào ngồi trong hầm ngủ gục , còn một số đồng chí ngó xem pháo và Tên lửa của ta bắn rực đỏ bầu trồ Thăng Long .
Thình lình , tôi hoàn toàn vô cảm trong phần giây như mình không có trên đời , sau đó tôi bừng tỉnh và thấy trước mặt tôi là hai đồng chí đạp nhau nằm trên vũng máu , một người cạnh tôi máu chảy tứ đầu xuống vai ; thế là hầm tôi trú ẩn dính Tên lửa CỦA PHI CƠ MỸ . ngay lúc đó cũng vừa khoảnh khắc im tiếng bom đạn , tuy chưa báo yên ; tôi nhảy ra khỏi hầm kêu cấp cứu , nhưng sân cơ quan lặng ngắt như bãi chiến trường . , dăm phút sau chúng tôi goi xe con đưa đồng chí bị trọng thương vào Quân y viện 108 cấp cứu . Tôi dục lái xe và vài đồng chí đi theo , cùng tôi vừa đi vừa cầm máu để nhanh chóng vào Viện . May thay người trọng thương cứu được , chỉ phải lấy đi một con mắt và bó vỡ một bên vai . còn tôi hoàn toàn không dính mảnh nào >
Trời sáng , chúng tôi dọn dẹp và tôi xem thấy ngay sau lưng chỗ tôi ngồi chỉ còn không đầu 2cm đất nữa là sập hoàn toàn ngay sau lưng tôi ., còn có những mảnh vuông như hạt ngô cắm đầy gáy sách của tôi nơi đầu giường và màn chăn thủng lỗ chỗ khắp nơi .
Qua lần đó __ Hầm tôi bị đạn từ đâu đó trong trận không kích của Mỹ đợt bắn phà bằng đạn bom tọa độ tức là theo tọa độ mà cường kích không kể mụ tiêu dưới mặt đất , tôi cẩm nhận được một phần giây đồng hồ, cái th ời gian mà thình lình mình biến mất .
Sau hôm bị bom các phòng đều ăn ở và làm việc trong hầm chữ A rải rác , , khi bom B52 dữ dội , vào ban đêm , phải trú ẩn trong hầm Bêtông đã xây trước đó ; nhưng an toàn tính mạng vẫn không tuyệt đối mà ngược lại tiếng máy bay , bom đạn nổ lộng óc,
nhức tai khi ngồi trong hầm Bê Tông khó chịu nổi .
Sau một tuần lễ đánh phá của B52 , chúng tôi có lệnh , những Cán bộ không cần giải quyết công việc thường nhật cấp phát vật tư hoặc kế hoạc quân lực thì đi sơ tán xuỗng các cơ sở ,đồng thời giúp cơ sở trong công việc hàng ngày .
Tôi được phái đến sơ tán ở nhà máy T-606 năm trước tôi đã được cục biệt phái xây dựng ở đó và giúp đỡ phòng kỹ thuật , giám đốc trong những khó khăn , vướng mắc về kỹ thuật . Nhưng cũng nơi đây chẳng mấy an toàn vì theo đường chi bay thí cách bến Phà Khuyến Lương không xa là mấy , tôi ẩn trong hầm đất còn nhân dân sợ hãi , họ bỏ chạy hết ra hầm trú ẩn ngoài cánh đồng .
Những ngày bom B52 hà nội, tôi không có tin tức gì về các cuộc ném bom của Mỹ ; nhưng nhờ chiếc Radio tự lắp gì đó của chủ nhà nơi tôi ở sơ tán nên ngay sau khi kết thúc ném bom và tuyên bố chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc là tôi lên xe đạp về Cơquan Cục . . Sau những ngày Hiệp định đìnhchiến Paris được ký kết tôi lại tiếp tục về trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà nội để học tiếp năm thứ 4 đại học anh văn tại chức và lớp tiếng Pháp của Hà Nội .
Sau giải phóng miền nam 30/4/1975 xong xây dựng khu B – của T B T Lê Duẩn Tôi chuyến sang phòng Quản lý kho và làm nhiệm vụ quy hoạch và quản lý kỹ thuật các kho thuộc Cục cũng như thiết kế các phương tiện bốc dỡ trong kho theo mục tiêu giảm bớt sức lao động chân tay và giảm lao động trong kho cùn với việc nghiên cứu quản lý vật tư theo mã hóa . .
Cho nên tôi hay phải đi công tác xuống các kho và đoàn vận tải , bởi thế việc học ngoại ngữ không bảo đảm thường xuyên và ngày thi lấy bằng đại học tôi không có mằt ở Hà Nội .
Hôm đó khoảng đêm về sáng , còi áo động của Thành 0phố rúc một hồi dài báo động Máy bay bay bào ném bom tHà Nội . Tôi đang ngủ trong phòng vừa làm việc vừa ngủ của bộ phận \quân lực Phòng tổ chức kế hoach cục , bên ven Hồ Tây , nghe còi tôi chạy vào hầm để ngồi ngủ tiếp , hầm chữ A bằng tra phủ dầy lớp đất . Hầm tôi trú được 3 người ngay đầu hồi ngoài sân . Lúc đầu chúng tôi nghĩ Bọn Mỹ sẽ không ném xuống rìa Hồ Tây nơi cơ quan Cục nên tôi buồn ngủ,vào ngồi trong hầm ngủ gục , còn một số đồng chí ngó xem pháo và Tên lửa của ta bắn rực đỏ bầu trồ Thăng Long .
Thình lình , tôi hoàn toàn vô cảm trong phần giây như mình không có trên đời , sau đó tôi bừng tỉnh và thấy trước mặt tôi là hai đồng chí đạp nhau nằm trên vũng máu , một người cạnh tôi máu chảy tứ đầu xuống vai ; thế là hầm tôi trú ẩn dính Tên lửa CỦA PHI CƠ MỸ . ngay lúc đó cũng vừa khoảnh khắc im tiếng bom đạn , tuy chưa báo yên ; tôi nhảy ra khỏi hầm kêu cấp cứu , nhưng sân cơ quan lặng ngắt như bãi chiến trường . , dăm phút sau chúng tôi goi xe con đưa đồng chí bị trọng thương vào Quân y viện 108 cấp cứu . Tôi dục lái xe và vài đồng chí đi theo , cùng tôi vừa đi vừa cầm máu để nhanh chóng vào Viện . May thay người trọng thương cứu được , chỉ phải lấy đi một con mắt và bó vỡ một bên vai . còn tôi hoàn toàn không dính mảnh nào >
Trời sáng , chúng tôi dọn dẹp và tôi xem thấy ngay sau lưng chỗ tôi ngồi chỉ còn không đầu 2cm đất nữa là sập hoàn toàn ngay sau lưng tôi ., còn có những mảnh vuông như hạt ngô cắm đầy gáy sách của tôi nơi đầu giường và màn chăn thủng lỗ chỗ khắp nơi .
Qua lần đó __ Hầm tôi bị đạn từ đâu đó trong trận không kích của Mỹ đợt bắn phà bằng đạn bom tọa độ tức là theo tọa độ mà cường kích không kể mụ tiêu dưới mặt đất , tôi cẩm nhận được một phần giây đồng hồ, cái th ời gian mà thình lình mình biến mất .
Sau hôm bị bom các phòng đều ăn ở và làm việc trong hầm chữ A rải rác , , khi bom B52 dữ dội , vào ban đêm , phải trú ẩn trong hầm Bêtông đã xây trước đó ; nhưng an toàn tính mạng vẫn không tuyệt đối mà ngược lại tiếng máy bay , bom đạn nổ lộng óc,
nhức tai khi ngồi trong hầm Bê Tông khó chịu nổi .
Sau một tuần lễ đánh phá của B52 , chúng tôi có lệnh , những Cán bộ không cần giải quyết công việc thường nhật cấp phát vật tư hoặc kế hoạc quân lực thì đi sơ tán xuỗng các cơ sở ,đồng thời giúp cơ sở trong công việc hàng ngày .
Tôi được phái đến sơ tán ở nhà máy T-606 năm trước tôi đã được cục biệt phái xây dựng ở đó và giúp đỡ phòng kỹ thuật , giám đốc trong những khó khăn , vướng mắc về kỹ thuật . Nhưng cũng nơi đây chẳng mấy an toàn vì theo đường chi bay thí cách bến Phà Khuyến Lương không xa là mấy , tôi ẩn trong hầm đất còn nhân dân sợ hãi , họ bỏ chạy hết ra hầm trú ẩn ngoài cánh đồng .
Những ngày bom B52 hà nội, tôi không có tin tức gì về các cuộc ném bom của Mỹ ; nhưng nhờ chiếc Radio tự lắp gì đó của chủ nhà nơi tôi ở sơ tán nên ngay sau khi kết thúc ném bom và tuyên bố chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc là tôi lên xe đạp về Cơquan Cục . . Sau những ngày Hiệp định đìnhchiến Paris được ký kết tôi lại tiếp tục về trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà nội để học tiếp năm thứ 4 đại học anh văn tại chức và lớp tiếng Pháp của Hà Nội .
Sau giải phóng miền nam 30/4/1975 xong xây dựng khu B – của T B T Lê Duẩn Tôi chuyến sang phòng Quản lý kho và làm nhiệm vụ quy hoạch và quản lý kỹ thuật các kho thuộc Cục cũng như thiết kế các phương tiện bốc dỡ trong kho theo mục tiêu giảm bớt sức lao động chân tay và giảm lao động trong kho cùn với việc nghiên cứu quản lý vật tư theo mã hóa . .
Cho nên tôi hay phải đi công tác xuống các kho và đoàn vận tải , bởi thế việc học ngoại ngữ không bảo đảm thường xuyên và ngày thi lấy bằng đại học tôi không có mằt ở Hà Nội .
Những năm công tác và làm việc ở Hà
Nội tôi chỉ gặp lại dăm bạn đồng đội thân thiết trên phố thủ đô , rồi dần không
gặp được . Vả chăng , những ngày sống trong lòng Hà Nội vì bận rộn với việc
thiết kế thi công và học , đọc sách , lại còn đạp xe về Nam Định nên liên lạc
của tôi với đồng đội khóa một dần mất .
Mẩu chuyện
bên lề
Mùa hè , kỳ nghỉ hết học kỳ là mùa
nghỉ ngơi của sinh viên các trường Đại học , nhưng chúng tôi , những học viên
trường đại học kỹ thuật quân sự hầu như không được nghỉ , cũng chỉ như là những
ngày sau chiến dịch mà thôi . Bởi vậy , hầu hết đều được bố trí đi lao động
,hoặc là lo cho cơ sở vật chất năm học tiếp theo , hoặc dã ngoại đi giúp nhân
dân , cũng có thể đi phục vụ ở các đơn vị bảo vệ miền Bắc trên các trận địa ;
chúng tôi có số ít được lưu lại ở nhà để thực tập gọi là “nghiên cứu “ .
Xóm làng yên tĩnh , đồng đội đi lao động , dã ngoại đâu đó , chừng dăm bảy người chúng tôi được bộ môn Sức Bền Vật liệu , bấy giờ do Trung uý -- Giảng viên tổ trưởng bộ môn sức bền vật liệu __ Nguyễn Khoa Thịnh tập họp để hướng dẫn học, kết hợp với nghiên cứu về một số vấn đề trong Sức bên vật liệi như : ứng suất trong các ống dầy và các bình vỏ mỏng cũng như trạng thái ứng suất khối , chúng là những vấn đề không có trong chương trình đại học của bất kỳ trường đại học nào lúc bấy giờ . Tôi chỉ còn nhớ , hình như trong nhóm gọi là nghiên cứu đó có Lê Kinh Tuyến , Nguyễn Đình Thắng , Nguyễn Đình Năng , Lê Công Sơn ,…( sau này chúng tôi được phân công học ngành Đạn , Ô tô- tăng xích và Trạm nguồn điện ) được chỉ định và mỗi người một đề tài khác nhau và có cũng chỉ những phần mở đầu cho một đề tài nghiên cứu hoàn thiện mà thôi , nhưng nó đòi hỏi phải tập trung tư tưởng và trí tuệ, học thêm cái gọi là “vạn sự khởi đầu nan “ mà “vạn sự khởi đầu nan “ thì chính Kar-Mark cũng phải thừa nhận như trong những lời đầu của cuốn “TƯ BẢN “ của Ông , có thể không là nan giải .
Bắt đầu tôi được phân công chứng minh Biểu thức toán học cuối cùng của Trạng thái Ưng suất khối biểu diễn trên Vòng tròn MORH mà mhư anh Thịnh nói : không có cuốn sách hoặc tài liệu nào có trong tay đã chứng minh nó .( trong chương trình học , chúng tôi cũng không học và không có bài tập về trạng thái ứng suất này , trên một số giáo trình sức bền cũng không đề cập đền nó và hầu hết các sáh bài tập cũng không có bài tập về nó , tôi về Hà nội chỉ tìm được ở hiệu sách khoa học kỹ thuật một cuốn bài tập sức bền bằng tiếng Nga có Viết Biểu thức Toán cho trạng thái ứng đó để làm bài tập mà thôi .
Bấy giờ , quần áo mùa hè của chúng tôi không được đẹp như hôm nay mà nó xuyềnh xoàng đến nhọ nhem , bởi đúng lúc quân đội ta gặp khó khăn nhất trong quân nhu , hậu cần , nhất là lại không đeo quân hàm học viên khi về Hà Nội dưới trời hè của Thủ đô .
Chúng tôi , quân phục không quân hàm đội mũ không có quân hiệu như những anh nhà quê ra tỉnh .
Tôi và Lê Kinh Tuyến vào hiệu sách Ngoại văn khoa học kỹ thuật mà trên quầy sách , các tầng sách hầu như chỉ có Sách tiếng Nga , Tôi chỉ và nói cô bán sách cũng còn trẻ như chúng tôi lấy một quyển trên tầng giá sách có bìa cứng và dày ; Cô ấy bảo chúng tôi :
__ Quyển ấy nhiều chữ lắm đấy các anh ạ !
Tuyến vốn là một tay mà tôi thường vui coi như con cháu của Đại văn hào hài ,viết truyện cho thanh thiếu niên và nhi đồng --Truyện “trẻ con “ _An-Đec-Xen , Tuyến bèn chỉ tay vaò một cuốn sách trước mặt có mấy chữ cái và nói :
__Vậy thì cho tôi xem quyển sách có thật đại to kia kìa .
Cô hàng sách lẳng lặng không nói gì nữa mà với tay lấy cho chúng tôi cuốn sách tiếng /nga muốn xem hoặc mua .
Đi trên ngã tư Tràng Tiền hai chúng tôi cuòi vui vì câu nói hài mà xúc tích của Tuyến .
Xóm làng yên tĩnh , đồng đội đi lao động , dã ngoại đâu đó , chừng dăm bảy người chúng tôi được bộ môn Sức Bền Vật liệu , bấy giờ do Trung uý -- Giảng viên tổ trưởng bộ môn sức bền vật liệu __ Nguyễn Khoa Thịnh tập họp để hướng dẫn học, kết hợp với nghiên cứu về một số vấn đề trong Sức bên vật liệi như : ứng suất trong các ống dầy và các bình vỏ mỏng cũng như trạng thái ứng suất khối , chúng là những vấn đề không có trong chương trình đại học của bất kỳ trường đại học nào lúc bấy giờ . Tôi chỉ còn nhớ , hình như trong nhóm gọi là nghiên cứu đó có Lê Kinh Tuyến , Nguyễn Đình Thắng , Nguyễn Đình Năng , Lê Công Sơn ,…( sau này chúng tôi được phân công học ngành Đạn , Ô tô- tăng xích và Trạm nguồn điện ) được chỉ định và mỗi người một đề tài khác nhau và có cũng chỉ những phần mở đầu cho một đề tài nghiên cứu hoàn thiện mà thôi , nhưng nó đòi hỏi phải tập trung tư tưởng và trí tuệ, học thêm cái gọi là “vạn sự khởi đầu nan “ mà “vạn sự khởi đầu nan “ thì chính Kar-Mark cũng phải thừa nhận như trong những lời đầu của cuốn “TƯ BẢN “ của Ông , có thể không là nan giải .
Bắt đầu tôi được phân công chứng minh Biểu thức toán học cuối cùng của Trạng thái Ưng suất khối biểu diễn trên Vòng tròn MORH mà mhư anh Thịnh nói : không có cuốn sách hoặc tài liệu nào có trong tay đã chứng minh nó .( trong chương trình học , chúng tôi cũng không học và không có bài tập về trạng thái ứng suất này , trên một số giáo trình sức bền cũng không đề cập đền nó và hầu hết các sáh bài tập cũng không có bài tập về nó , tôi về Hà nội chỉ tìm được ở hiệu sách khoa học kỹ thuật một cuốn bài tập sức bền bằng tiếng Nga có Viết Biểu thức Toán cho trạng thái ứng đó để làm bài tập mà thôi .
Bấy giờ , quần áo mùa hè của chúng tôi không được đẹp như hôm nay mà nó xuyềnh xoàng đến nhọ nhem , bởi đúng lúc quân đội ta gặp khó khăn nhất trong quân nhu , hậu cần , nhất là lại không đeo quân hàm học viên khi về Hà Nội dưới trời hè của Thủ đô .
Chúng tôi , quân phục không quân hàm đội mũ không có quân hiệu như những anh nhà quê ra tỉnh .
Tôi và Lê Kinh Tuyến vào hiệu sách Ngoại văn khoa học kỹ thuật mà trên quầy sách , các tầng sách hầu như chỉ có Sách tiếng Nga , Tôi chỉ và nói cô bán sách cũng còn trẻ như chúng tôi lấy một quyển trên tầng giá sách có bìa cứng và dày ; Cô ấy bảo chúng tôi :
__ Quyển ấy nhiều chữ lắm đấy các anh ạ !
Tuyến vốn là một tay mà tôi thường vui coi như con cháu của Đại văn hào hài ,viết truyện cho thanh thiếu niên và nhi đồng --Truyện “trẻ con “ _An-Đec-Xen , Tuyến bèn chỉ tay vaò một cuốn sách trước mặt có mấy chữ cái và nói :
__Vậy thì cho tôi xem quyển sách có thật đại to kia kìa .
Cô hàng sách lẳng lặng không nói gì nữa mà với tay lấy cho chúng tôi cuốn sách tiếng /nga muốn xem hoặc mua .
Đi trên ngã tư Tràng Tiền hai chúng tôi cuòi vui vì câu nói hài mà xúc tích của Tuyến .
Chuyện Đối Xứng
Trong nhưng ngày vừa học vừa nghiên
cứu ngắn ngủi sau chính khoá , dưới trời bom đạn miền trung và Nam bộ, bấy giờ
, giữa những lúc nghỉ khi Anh Thịnh xuống’ chỗ chúng tôi tập trung học , ngồi
giải lao trò chuyện thân tình như những an hem , đồng chí đi trước ; Anh Thịnh
nói chuyện với chúng tôi về “Tính Đối xứng” trong khoa học , và tôi nhớ mãi
chuyện anh kể :
đại ý là ; có một lần , một nhà khoa học nghiên cứu về Nguyên tử và Năng lượng Nguyên tử sang làm việc với các nhà khoa học V. N trong lĩnh vực nay , nói chuyện ngoài lề và hỏi nhà khoa học của ta((hình như ông Nguyễn ĐiìnhTứ)) đang nghiên cứu về tính đối xứng ;
bỗng nhiên Nhà khoa học Mỹ hỏi :
__Ông là người nghiên cứu về “Đối xứng “
Ông thấy thế nào về sự đối xứng khi mỹ xuống thang trong ném phá hoại miền Bắc mà miền Bắc không rút quân khỏi miền Nam ???
Nhà khoa học của ta trả lời :
__Ông cũng là người nghiên cứu về đối xứng , tôi cũng là người nghiên cứu về đối xứng, vậy hẳn ông biết rõ ; Tiền đề không đối xứng, thì kết quả cũng không thể đối xứng .
Và nhà khoa học Mỹ không thể nói gì thêm ! ?
Mãi sau này khi đã nghỉ hưu lâu lắm , xem trên truyền hình VTV tôi mới biết giám đốc hoc viện kỹ thuật quân sự V N là Tướng Nguyễn Khoa Thinh năm nào , khi đó anh đã béo hơn hồi còn Trung uý .
Có lẽ như anh Nghiêm Sỹ Chúng nói đúng : chuyện vụn vặt nhưng không quên và gợi lại một thời đáng nhớ . ./.
đại ý là ; có một lần , một nhà khoa học nghiên cứu về Nguyên tử và Năng lượng Nguyên tử sang làm việc với các nhà khoa học V. N trong lĩnh vực nay , nói chuyện ngoài lề và hỏi nhà khoa học của ta((hình như ông Nguyễn ĐiìnhTứ)) đang nghiên cứu về tính đối xứng ;
bỗng nhiên Nhà khoa học Mỹ hỏi :
__Ông là người nghiên cứu về “Đối xứng “
Ông thấy thế nào về sự đối xứng khi mỹ xuống thang trong ném phá hoại miền Bắc mà miền Bắc không rút quân khỏi miền Nam ???
Nhà khoa học của ta trả lời :
__Ông cũng là người nghiên cứu về đối xứng , tôi cũng là người nghiên cứu về đối xứng, vậy hẳn ông biết rõ ; Tiền đề không đối xứng, thì kết quả cũng không thể đối xứng .
Và nhà khoa học Mỹ không thể nói gì thêm ! ?
Mãi sau này khi đã nghỉ hưu lâu lắm , xem trên truyền hình VTV tôi mới biết giám đốc hoc viện kỹ thuật quân sự V N là Tướng Nguyễn Khoa Thinh năm nào , khi đó anh đã béo hơn hồi còn Trung uý .
Có lẽ như anh Nghiêm Sỹ Chúng nói đúng : chuyện vụn vặt nhưng không quên và gợi lại một thời đáng nhớ . ./.
Người soạn thảo
Đỗ Đăng Đích Khóa 1 Đại học kỹ thuật quặn V.N C213
Các bài viết trên đã đăng lên các trang Cộng đồng cuấu khi các
bạn đã đồng ý và các bài viết đã có nhiều lượt xem , tiếp
cận trên Blogger , trang cá nhân của
Đỗ Đăng Đích ,
Tìm kiếm on Line on
Google : Đỗ Nguyễn Thiện Nam , or
masterdich or Đăng Đích Đỗ
Đỗ Đăng Đích Named Đỗ Nguyễn Thiện Nam
www,Bloggerspotvn.com/Đỗ Nguyễn Thiện Nam
Phone Number 0917254041
Namdinh City
Đ6—P 14 VănMiếu Trần Huy Liệu
Confidential Page 180 2/29/2016
F:\NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN Tổng Hợp.doc
Page 180 of 184
Windows 8.1 Offices 2003
Photographed and made
and Taken By Đỗ Đăng Đích .
Thanks Alot
NỘI DUNG
Nguễn Thanh Sơn ,
Nghiêm Sỹ Chúng
Lê Tùng Sơn
Đỗ Thành Hưng ,
Đỗ Đăng Đích
NGUYỄN
THANH SƠN
BÂY GIỜ EM Ở ĐÂU.
ĐỖ ĐĂNG ĐÍCH
THỜI GIAN TRÔI
*Truyện Hồi ký về
ngày 5 tháng 8 --1964
TỪ NHÀ TRƯỜNG RA BIÊN GIỚI
Hồi ký của
Thiếu Tướng Nghiêm Sỹ ChúngRút trong Tập
1
NHỮNG NGÀY ĐẦU Ở KHO K56 ‘’ơKho
Gốc Me
Đỗ
Đăng Đích
Hồi
ký ____________
NHỮNG NGÀY Ở CỤC VẬT TƯ TCKT
Truyện Hồi Ký
Đỗ Thành Hưng
“SỸ QUAN BINH NHÌ"
Ký ức thời gian .
Đỗ Đăng Đích
Đỗ Tành Hưng HỒI KÝ
CHÍNH TRỊ VIÊN CỦA TÔI
PHẦN KẾT-GẶP LẠI BẠN BÈ
Nguyễn Thanh Sơn HỒI KÝCHUYỆN DÔNG DÀI NGÀY TẾT
ĐạiTá Lê Tùng Sơn Ô TÔ –TĂNG XÍCH
Bài từ Biên Hoà chuyển qua Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
LÊ TÙNG SƠN
Bài từ Biên Hoà chuyển qua Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
Bài từ Biên Hoà chuyển qua Email.
Trên Chiến trường B 2 và dọc Trường Sơn
Đỗ Đăng Đích
Trên Đất THỦ ĐÔ
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
KHÔNG ĐỀ
Mẩu chuyện bên lề
Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trường70l
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
KHÔNG ĐỀ
Mẩu chuyện bên lề
Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trường70l
ĐỖ ĐĂNG ĐÍCH
NHỚ NHỮNG NGÀY
NHỚ NHỮNG NGÀY
Trên Đất THỦ ĐÔ
BÊN BỜ HỒ TÂY
Đ ẤT TH ÁNH__H À N ỘI
Y ên B ình v à
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
KHÔNG ĐỀ
. TRONG 12 NGÀY ĐÊM
HÀ NỘI DƯỚI BOM MỸ
Mẩu chuyện bên lề
Đ ẤT TH ÁNH__H À N ỘI
Y ên B ình v à
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
KHÔNG ĐỀ
. TRONG 12 NGÀY ĐÊM
HÀ NỘI DƯỚI BOM MỸ
Mẩu chuyện bên lề
Named Đỗ Nguyễn Thiện Nam
Namdinh
dang dich Page 183 2/29/2016
Đỗ Đăng Đích Khóa 1
Đại học kỹ thuật quặn V.N C213
CƯU HỌC
VIÊN BIA MAU HUNG SON 2
In reply to: Mail:
www,Bloggerspotvn.com/Đỗ
Nguyễn Thiện Nam
Phone Number 0917254041
Chế bản -- Đỗ Đăng Đích ___
WINDOWS 8.1
at home namdinh
city October 2015
Nhận xét
Đăng nhận xét