HỒI KÝ CỦA ÔNG NGUYỄN TẠO
BÙI HUY HỘI BÙI có viết về cụ nguyễn Tạo và rừng QG Cúc Phương-vườn quốc gia thuộc loại có sớm trên TG, gửi tặng BHHB và những ng quan tâm một tài liệu liên quan:
VỀ VƯỜN QUỐC GIA CÚC PH
Hôi ký của ông NGUYỄN TẠO
Đã dăng trên Facebook Nguyễn Thanh Sơn
Lời giới thiệu: Khu Rừng Già Cúc Phương sẽ như nhiều khu rừng khác đã biến thành đồi núi trọc, nếu không có những vị lãnh đạo có Tâm và có Tầm, ô. Nguyễn Tạo là một người như vậy. Chúng tôi xin trích giới thiệu bài phát biểu của ô Nguyễn Tạo - nguyên Tổng Cục Trưởng Lâm Nghiệp - nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Vườn Quốc Gia Cúc Phương(1962-1982), qua đó chúng ta thấy nhiều v/đ mà ông Nguyễn Tạo nêu ra, đang là thời sự.
Kính thưa tất cả các đồng chí.
Nhân ngày lễ 20 năm thành lập Vườn Quốc Gia Cúc Phương, các đ/c lãnh đạo vườn có nhã ý đón tôi đến dự ngày kỷ niệm long trọng này. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, đây là đạo đức cổ truyền mấy ngàn năm của dân tộc ta, nhưng tôi vẫn rất hoan nghênh các đ/c lãnh đạo và toàn thể anh chị em cán bộ Vườn Quốc Gia Cúc Phương.
Đ/c giám đốc Vườn Quốc Gia có yêu cầu tôi nói chuyện với anh chị em Vườn Quốc Gia và các đại biểu trong 5, 10 phút, vì tôi đã quá già không đủ sức nói chuyện nhiều.
Tôi nghĩ chúng ta tập hợp trong Rừng Già Cúc Phương này, vậy thử tính Rừng Già tới nay đã bao nhiêu tuổi? Nếu ta căn cứ vào công tác khai quật phát hiện các ngôi mộ cha ông ta đã ở đây, từ đời sơ kì đồ đá mới, tức đã cách ngày nay một vạn năm. Khi đã có con người tới ở, chắc rừng già đã có từ lâu, 10vạn năm hay hàng triệu năm? Như vậy tôi 80 tuổi so với rừng già chỉ là một đứa trẻ sơ sinh. Tôi là trẻ sơ sinh nói chuyện với các đ/c tức là một đàn trẻ sơ sinh, như vậy chúng ta đâu đã già? Ai là người già ?
Cổ nhân thường nói “ôn cổ tri tân”, nay tôi xin kể lại những chuyện mấy năm xưa để các bạn thấy rõ công tích các cán bộ công nhân viên Cúc Phương, thấy rõ mình đã làm được gì cho khu rừng già này thành Vườn Quốc Gia Cúc Phương.
Năm 1958 tôi là thứ trưởng Bộ Nông Lâm, trực tiếp phụ trách Lâm Nghiệp. Đ/c trưởng ty Lâm Nghiệp lên bộ Nông Lâm xin duyệt kinh phí làm 9 cây số đường từ đường 21 (cạnh nông trường Đông Giao) vào xóm Đáng, để khai thác 2.000m3 gỗ ở trong rừng Cúc Phương. Tôi hỏi kỹ tình hình khu rừng? Tôi thấy hơi lạ vì cách tỉnh lị Ninh Bình có 30 cây số mà từ cổ chưa có ai khai thác trong đó? Tôi liền phái 3 kỹ sư vào kiểm tra lại, trong đón có đ/c Thái Văn Trừng, đ/c Dương Hữu Thời. Các đ/c về báo cáo cho tôi biết sự vĩ đại của khu rừng và kết luận : Đó là một khu rừng Nguyên Thủy. Tôi chả hiểu khu rừng Nguyên Thủy là gì? Có phải Nguyên Thủy là từ “tạo thiên lập địa” đã có khu rừng này không? Hay là khu rừng đã xuất hiện từ đệ tam đệ tứ thạch hệ? Kết luận các đ/c gọi là rừng Nguyên Sinh. Tôi quê mùa nên gọi là khu Rừng Già Cúc Phương. Nhưng tôi cũng mới chỉ nghĩ đây là một khu rừng nhiệt đới của đất nước ta mà thôi.
Nhân đ/c Anrorin, giám đốc vườn bảo vệ thiên nhiên ở Luugrade sang thăm Việt Nam, Tôi mời đ/c vào thăm Cúc Phương, đ/c Anrorin ở lại trong xóm Bống, nhà sàn cuả ông chủ tịch Ngọc. 7 ngày sau ông ấy về, gặp tôi nói: Rừng Già Cúc Phương hiện nay trên Thế Giới có thể không còn nữa! Đây là của quý của Việt Nam, của phe XHCN, và của cả nhân loại. Nó có thể chứa đựng còn nhiều bí mật mà loài người chưa biết được, các đ/c cần bảo vệ cho được. Một thành phố lớn có thể bị tàn phá thì người ta có thể xây dựng lại trong 10, 20 năm, còn rừng Cúc Phương bị phá hoại nếu có bỏ ra bao nhiêu tấn vàng bạc, hàng ngàn năm cũng không xây dựng lại được!
Tôi rất tin cậy vào sự đánh giá của các nhà bác học. Tôi liền làm tờ trình lên Thủ tướng chính phủ xin thành lập Vườn Quốc Gia để bảo vệ rừng Cúc Phương. Cho đến 20.12.1962 đ/c phó thủ tướng Phạm Hùng mới kí quyết định cho chuẩn bị xây dựng Vườn Quốc Gia Cúc Phương.
Nhưng không có kinh phí. Tôi phải trích kinh phí của Tổng Cục Lâm Nghiệp xây dựng 40 cây sổ đường, trong đó có 5 cây số đường nhựa, dựng một hệ thống cột điện hạ thế, khoan giếng nước, lắp một hệ thống ống nước. Xây lắp được 2000m2 nhà bán kiên cố cho cơ quan, và khách du lịch.
Cuối năm 1962, đ/c Baranop viện sĩ thông tấn viện hàn lâm Liên Xô, viện trưởng viện KAMAROP - Viện thực vật vào loại lớn nhất thế giới có 500 bác học, đã thành lập được 300 năm nay - sang thăm Việt Nam và ở lại đi xem rừng Việt Nam 4 tháng, tôi mời đ/c đi xem Cúc Phương. Trước hôm về nước, đ/c trao đổi ý kiến với tôi, và nói: Tôi là viện trưởng viện thực vật lớn, nhưng mấy chục năm bị đế quốc phong tỏa, chỉ thấy rừng nhiệt đới trong mơ. Nay sang Việt Nam thấy rừng nhiệt đới của các đ/c quá phong phú ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi! Tôi muốn hỏi đ/c: Chúng ta đặt v/đ hợp tác nghiên cứu thực vật được không?
Tôi giả lời: Tôi cũng hiểu, nghiên cứu thực vật phải nghiên cứu thực vật nhiệt đới mới đủ phong phú. Các nước tư bản đế quốc họ đều có cơ sở nghiên cứu thực vật nhiệt đới như Hà Lan có viện Bogor ở Nam Dương, Tây Đức có xứ Tandania, Anh có nhiều cơ sở ở Ấn Độ, Mỹ có nhiều viện ở Nam Mỹ... Còn các nước XHCN có hai quốc gia nhiệt đới Cu Ba và Việt Nam, nhưng Cu Ba thì bị đế quốc Mỹ phá sạch rừng núi. Còn ở Việt Nam thì rừng cây còn rất phong phú như đ/c đã thấy. Tôi xin đề nghị chúng ta nên thành lập một viện nghiên cứu thực vật nhiệt đới của phe XHCN ở Việt Nam! đ/c Baranop nói với tôi: Tôi xin đề nghị 3 ngày, rồi sẽ giả lời đ/c.
Sau 3 ngày, đ/c Baranop đến gặp tôi, nói: Tôi suy nghĩ kỹ thấy ý đồng chí đề xuất lớn và hay lắm. Ta nghiên cứu cho ta, cho con cháu ta, ta làm việc cho cả nhân loại. Ta sẽ đào tạo hàng vạn bác học thực vật cho nhân loại. Không phải riêng sinh viên XHCN sang Việt Nam học tập nghiên cứu, và cả thanh niên các nước tư bản muốn học tập nghiên cứu thực vật nhiệt đói phải sang Việt Nam. Đ/c Baranop lại nói: Nhưng tôi đề nghị trước mắt Việt Nam và Liên Xô hợp tác xây dựng viện Thực Vật Nhiệt Đới, ta vẫn để dành ghế cho các nước trong phe XHCN, sau này ai muốn tham gia tùy ý. Viện Kamarop hàng năm có kinh phí khá lớn, và có nhiều cán bộ bác học, tôi sẽ phái sang Việt Nam góp sức vào xây dựng viện. Đ/c nên đề nghị với chính phủ của đ/c, và tôi về nước đề nghị với chính phủ của tôi ngay.
Tôi làm tờ trình với thủ tướng Phạm Văn Đồng và được đồng ý ngay. Tôi chuẩn bị một phân viện Thực Vật Cúc Phương để làm cơ sở cho việc hợp tác xây dựng viện với Liên Xô.
Đ/c Baranop về Leeningrat đề nghị với chính phủ Liên Xô, và báo cáo với ban lãnh đạo viện Kamanop, được nhiệt liệt hoan nghênh, việc này được đăng lên báo thực vật viện Kamarop.
Viện thực vật Tharanb CHDC Đức biết tin này liền phái 3 giáo sư tiến sỹ: giáo sư fichet, giáo sư Lojchau, giáo sư Bobay sang thăm Lâm Nghiệp Việt Nam. Tới hội đàm với tôi và đặt v/đ xin gia nhập vào trung tâm nghiên cứu thực vật nhiệt đới mà Liên Xô và Việt Nam sắp thành lập? Tôi rất phân khởi và hoan nghênh.
Nhưng không may, năm 1963 đ/c Baranop bị bệnh tim và qua đời. Đ/c đã di chúc lại cho đ/c Federop viên sỹ thông tấn viện hàn lâm Liên Xô, kế vị đ/c làm giám đốc viện Kamarop. Từ 1963 đến 1970 mỗi năm đ/c Federop phái ba giáo sư bác học của viện Kamarop sang Việt Nam bàn kế hoạch xúc tiến việc thành lập viện. Tôi nói hiện nay đế quốc Mỹ còn cho Không Quân tàn phá đất nước chúng tôi, nếu chúng ta bắt tay vào xây dựng viện thực vật, nó biết được nó sẽ cho tàn phá ngay, chờ hết chiến tranh ta sẽ xây dựng ngay.
Không may, đến năm 1971 các đ/c lãnh đạo đã quyết định tôi về hưu. Từ đó các bác học viện thực vật Kamarop cũng như Tharanb không sang Việt Nam bàn xây dựng viện nữa - đó là một điều tôi mơ ước xây dựng vườn quốc gia Cúc Phương, làm giàu cho đất nước tan tành mây khói.
Một điều thử 2 tôi dự định: Phục vụ cho du lịch.
Rừng Già Cúc Phương không chỉ để làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thực vật, động vật, côn trùng... mà còn có thể biến thành một cơ sở du lịch lớn, để có thể thu ngoại tệ lớn cho nhà nước. Ngày nay các nước đại công nghiệp, người ta rất chán với những nhà chọc trời, những khách sạn tối tân, những ô tô, tàu điện, tàu bay suốt ngày rầm rập. Xu hướng của nhân dân các xử công nghiệp là hàng năm muốn được đi thăm hoặc nghỉ ngơi những vùng rừng núi xa lạ, ở nhà sàn, ăn thịt nướng, uống rượu cần, đốt lửa trại, nhảy nhót trong hang động, săn bắn thú rùng...do đó tôi chuẩn bị một khu đất hoang, có rất nhiều đồi núi nho nhỏ, đắp một con đường đi quanh co quanh các đồi gọi là đường Muôn Hồng. Trên mỗi đồi đất tôi định quy hoạch xây dựng một nếp nhà của một dân tộc. Và mỗi nếp nhà của một dân tộc đều có dụng cụ ăn, ở, sản xuất, cả văn hóa, nghệ thuật của dân tộc đó. Những người quản lý, phục vụ cũng ăn mặc trang điểm quần áo của dân tộc mình.
Du khách đến tham quan vườn Quốc Gia Cúc Phương đã có thể biết rõ sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán của cả 60 dân tộc ở trên đất nước Việt Nam, cũng như nghiên cứu tất cả các họ thực vật trên đất nước mà chỉ cần đi lại trong vườn, trong phạm vi 10 cây số! Điều mơ ước này cũng thành mộng tưởng.
Một điều thứ 3 tôi đã tính toán kỹ, là xây dựng một bảo tàng thực vật động vật, côn trùng của cả Đông Dương trong Vườn Quốc Gia Cúc Phương.
Tôi đã dự trù đề nghị với mỗi ty Lâm Nghiệp, mỗi tỉnh cung cấp cho Cúc Phương một cây gỗ, để xây dựng bảo tàng thực vật, yêu cầu là loại gỗ quý nhất, tốt nhất ở tỉnh đó như: Nghiến, Trai, Lim, Táu, Săng Lẻ, Gụ, Trắc, Lát Hoa, Cẩm lai, Chò Chỉ...
Trước đây tôi định xây dựng đường vào Cúc Phương, vẫn giữ nguyên 3 cái quèn: quèn Đang, quèn Xeo, quèn Voi, sợ có đường vận chuyển thuận tiện, cây cối trong đó sẽ bị phá hoại nghiêm trọng. Nhưng các đ/c phụ trách xây dựng đường cho tôi biết không phá 3 cái quèn đó thì không sao đưa được máy móc vào, đành phải phá. Nhưng những cây lớn dọc đường đều được bảo vệ, và mới chỉ làm được khúc đường đến Bống, còn độ 15 cây số nữa thì đến sông Bưởi, nhưng không dám làm vì có đường tới sông Bưởi thì Cúc Phương sẽ bị tàn phá nhanh chóng.
Tôi đã cho điều tra giáp sông Bưởi có nhiều cảnh quan rất đẹp, và nước sông Bưởi có thể làm một đập thủy điện nhỏ được độ 4.000kw. Tôi định xây một đập thủy điện để cấp điện cho Cúc Phương, nhất là Viện Bảo Tàng Thực Vật và Trung Tâm Nghiên Cứu Thực Vật, đồng thời phục vụ đời sống nhân dân.
Tất cả mọi kế hoạch cụ thể của tôi, đều nằm trong tưởng tượng. Nay tôi ôn chuyện xưa với các đ/c, rất hy vọng đ/c Bộ trưởng Lâm Nghiệp, các đ/c phụ trách vườn quốc gia lưu xét. Nếu có việc gì có thể thực hiện được xây dựng cho vườn quốc gia, để lại lợi ích cho nhân dân các đ/c có kế hoạch xây dựng lên được, thì riêng cá nhân tôi cũng rất biết ơn các đ/c.
Một v/đ nữa tôi muốn nói với các đ/c: Trước kia người dân Ninh Bình thường nói “Bót Cô, Kỳ Lạc, Cúc Phương, ai lưu 3 vùng đó thì nắm xương cũng không còn” nhưng hai chục năm nay cán bộ, công nhân lớp này tới lớp khác chịu bao nhiêu gian khổ thiếu thốn, tới vùng này để khai phá xây dựng vườn quốc gia. Tuy chưa đạt tiêu chuẩn một vườn quốc gia, chưa đạt nguyện vọng chung, nhưng nay ta đã có đường xá, có điện nước, có nhà cửa tương đổi khang trang...đó là thành quả lao động trí óc và chân tay của tất cả các anh chị em xây dựng vườn quốc gia, rất đáng hoan nghệnh. Tôi tin chắc chỉ độ 10, 15 năm nữa, vùng rừng già nổi tiếng độc địa này sẽ biến thành một vườn quốc gia đáng tự hào của đất nước, và một nơi tham quan nổi tiếng của thể giới. Tôi tin như vậy vì ta có nhiều vốn quý cơ bản: Đất là tư liệu đặc biệt quý giá, ở đây ngoài khu vườn còn hàng vạn ha chưa được khai thác trông tỉa. Vốn quý thứ hai, là ta có nhiều kỹ sư, phó tiến sỹ, nhiều ngành khoa học tận tụy phục vụ xây dựng Cúc Phương, xây dựng Lâm Nghiệp. Và có sẵn một lực lượng lao động, công nhân đã chịu nhiêu gian khổ và đã quen với khí hậu, quen với thổ ngơi Cúc Phương
Trước mắt tôi đề nghị các đ/c có kế hoạch cụ thể cấp thiết nâng cao đời sống cán bộ, công nhân kể cả nhân dân trong vùng này. Biện pháp cụ thể sử dụng máy móc của vườn quốc gia sẵn có, hay là thương lượng với Lâm Nghiệp Đồng Giao, dùng máy móc ủi cây bụi, cày bừa cho mấy chục ha ruộng nương, ngay ở các thung lũng chung quanh chúng ta đây. Chia khoanh chia lô, độ 4, 5 sào/lô để cho gia đình cán bộ, công nhân sử dụng. Trồng sắn trồng bắp hoặc làm vườn cây ăn quả. Ai làm người đó được hưởng, chỉ làm nghĩa vụ theo khai phá định hoang, và khi thu hoạch phải trả công cày bừa. Tập thể vườn quốc gia có thể cấy độ 10ha, ướp nấu rượu làm rượu mơ, để tiếp khách quốc tế.
Một việc cụ thể nữa là nhà nước đã quyết định chuyển đồng bào ở trong Cúc Phương di cư ra một thôn xã khác. Việc này đ/c tổng bí thư Lê Duẩn và đ/c thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có chỉ thị hơn 10 năm trước, nay đã rất cấp thiết. Nếu không giải quyết được thì chỉ 10 năm nữa vườn quốc gia sẽ bị tàn lụi.
Nhân đây tôi xin trình bày với các đ/c một vấn đề rất quan trọng đối với sự nghiệp Lâm Nghiệp: Ta rất tự hào là đất nước nhiều rừng, nhiều gỗ, nhưng sự thực lại trái ngược lại. Và một điều rất quan trọng ta nên quan tâm: ở nước ta rừng còn thời kỳ gỗ củi. Và sự thực một cây gỗ lớn ta chỉ sử dụng được 30%. Còn các nước tiến lên thời kì công nghiệp gỗ, thì mỗi cây gỗ sử dụng được 80% hoặc hơn nữa, những cành cây bằng ngón tay đã biến thành gỗ ép. Và việc quan trọng bậc nhất ai cũng thấy, mà có lẽ không ai để ý là các nước đã qua chế độ tư bản thì rừng nhà nước đã bán cho các chủ tư bản kinh doanh rừng và thú rừng. Không còn ai tự tiện tự do vào ở trong rừng. Các chủ rừng đã dùng lưới thép rào riêng những khu rừng của mình, còn rừng nào của nhà nước cũng phải quản lý như vậy. Còn nước ta có 60 dân tộc thì 59 dân tộc ở trong rừng, sinh hoạt hoàn toàn dựa vào rừng tự nhiên, tùy tiện chặt gỗ làm nhà, tùy tiện đốt rẫy làm nương, tùy tiện chặt gỗ nấu ăn sưởi ấm quanh năm. Đời sống của 59 dân tộc anh em này nhà nước chưa có đường lối giải quyết, lại còn huy động hàng triệu nông dân đồng bằng lên phá rừng làm rẫy khai hoang.
Ngày nay nhà nước đã thông qua quy ước bảo vệ rừng, đã có một lực lượng lớn Kiểm Lâm, nhà nước lại sắp ban hành đạo luật bảo vệ rừng.Tôi nghĩ có bao nhiêu đạo luật bảo vệ rừng mà không có biện pháp cụ thể giải quyết đời sống cho hàng chục triệu người sống trong rừng núi một cách ổn định, thì không sao giải quyết được nạn phá rừng. Nếu cấm phát rẫy công khai, thì đồng bào sẽ phát rẫy bí mật, nếu không phát được rẫy thì họ tìm cách đốt rừng. Luật pháp, chế độ bảo vệ - đối với đời sống, tập quán của đồng bào đều vô giá trị.
Có kẻ hỏi như vậy, nhà nước đành bó tay cho rừng núi bị phá sạch hay sao? v/đ nước, v/đ môi trường sống của dân tộc thì sao? Đây là một câu hỏi đặt ra cấp thiết mà là sự nghiệp của toàn dân, nhà nước phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Và sự thực là một vấn đề có thể giải quyết được nếu có nhận thức đúng, cả phương pháp thực hiện chính xác. Tôi giả thiết: một gia đình đồng bào thiểu số có 3 lao động chính và 3 em nhỏ. Nếu có một khoảnh vườn từ 5 sào tới l mẫu bắc bộ, (mỗi mẫu 330m2) được trồng 40, 50 cây ăn quả như Đu Đủ, Mít, Mơ, Nhãn, Vải...có một nếp nhà 3 gian, có ao nuôi cá, chuồng lợn...các kỹ sư Lâm Nghiệp có thể hướng dẫn họ trồng cây thuốc như Ba Kích, Sa Nhân...Tôi nghĩ một Lâm Trường có độ 20, 30 vạn ha, nếu quy hoạch một khu đất không có rừng, đất tốt, tiện nước, tiện đường...xây dựng lên những làng Lâm Nghiệp, theo từng gia đình như thế, thì đồng bào sẽ thành tâm ra khỏi rừng, không còn đốt nương rẫy...
Hiện nay ngành Lâm Nghiệp đã có 2, 3 vạn kỹ sư, phó tiến sỹ. Nếu nhà nước phân công ủy nhiệm cho mỗi đ/c đi xây dựng một làng Lâm Nghiệp cho cả nước, bỏ được nạn đốt rẫy làm nương, coi đó là một luận án tiến sỹ...và nhà nước không cần bỏ hàng tỷ đồng cho khai hoang, cho kinh tế mới... mà để kinh phí xây dựng làng Lâm Nghiệp.
Thưa các đ/c, từ năm 67, 68 tôi đã đề xuất xây dựng làng Lâm Nghiệp... nhưng tôi xướng lên làng lâm Nghiệp, đã có vị lãnh đạo hò hét cho đó là một hành động vô chính trị, chiến tranh ác liệt mà đã nêu lên “khẩu hiệu cho an cư lạc nghiệp”? Nay tôi thấy v/đ phá rừng quá nghiêm trọng, một tai họa lớn cho dân tộc, nên tôi cứ phát biểu nhắc lại. Vị nào muốn hò hét thì cứ việc hò hét.
NGUYỄN TẠO
Nhận xét
Đăng nhận xét