Lịch Sử Pkả Đỗ Đăng Hành Thiện
Tài khoản thành viên
cho Chief Engi Đỗ Đăng Đích (thảo luận)
đã được mở.*****************
tiếng Việt
Bạn
chính là tác giả của Wikipedia!
Mọi người đều có thể biên tập bài ngay lập tức, chỉ cần nhớ vài quy tắc. Có sẵn rất nhiều trang trợ giúp như tạo bài, sửa bài hay tải ảnh. Bạn cũng đừng ngại đặt câu hỏi.
Hiện chúng ta có 1.168.538 bài viết và 589.126 thành viên.
Mọi người đều có thể biên tập bài ngay lập tức, chỉ cần nhớ vài quy tắc. Có sẵn rất nhiều trang trợ giúp như tạo bài, sửa bài hay tải ảnh. Bạn cũng đừng ngại đặt câu hỏi.
Hiện chúng ta có 1.168.538 bài viết và 589.126 thành viên.
************************************************************.
Theo WikipediA .
Âm lịch Việt Nam qua các thời kỳ
lịch sử
Hồ Ngọc Đức
Chương trình tính âm lịch VNCal
Chương trình tính âm lịch VNCal mà tôi thiết kế
(http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/) có chức năng tính lịch pháp
định ("Official calendar"). Đây là lịch được chính quyền đương thời
phát hành và cho sử dụng. Lịch này cũng có thể gọi là lịch chính thức, lịch
hành chính hay lịch lịch sử.
- Từ
900 đến 1300, chương trình hiển thị ngày tháng âm lịch của lịch Trung Quốc
[5]. Những dữ liệu này thật ra không hoàn toàn phù hợp với lịch Việt Nam
trong khoảng 1080-1300 như ta đã biết, nhưng vì không có đủ tài liệu để
tái tạo lịch nên chưa thể khắc phục được.
- Từ
1301 đến 1945 âm lịch pháp định của Việt Nam được tính dựa theo nghiên cứu
của Hoàng Xuân Hãn [2]. Trong khoảng này có một thời gian dài (1645-1812)
lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc khác nhau.
- Từ
1946 trở đi lịch được tính theo các qui tắc hiện đại, áp dụng cho múi giờ
chính thức được dùng tại Việt Nam. (Cách tính lịch được miêu tả cụ thể tại
[6]).
- Trong
những thời kỳ mà ở hai miền dùng hai loại âm lịch khác nhau (Tây Sơn-Nguyễn
1789-1802 và Bắc-Nam 1968-1975) thì chương trình hiển thị ngày tháng của cả
2 lịch chính thức nếu như những ngày tháng này khác nhau. Trong giai đoạn
1955-1975, ngày âm theo lịch miền Bắc được hiển thị ở góc phải bên dưới
(nơi bình thường vẫn in ngày âm lịch) và ngày tháng âm theo lịch miền Nam
được in trong ngoặc vuông ở góc phải bên trên (VD: [28/1]). Trong
giai đoạn 1789-1802, ngày tháng theo lịch Trung Quốc (mà có thể là nhà Tây
Sơn dùng -- điều này còn là nghi vấn) được hiển thị trong ngoặc vuông ở
góc phải bên trên.
http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/JavaScript/?yy=1800&mm=3
Chương
trình âm lịch bằng JavaScript
- họCn một
tháng của một năm trong khoảng 1800-2199 và nhấn chuột vào nút Xem lịch tháng để xem lịch của
tháng đã chọn.
- Kích chuột
vào nút Xem lịch năm sẽ
hiển thị lịch của cả năm đã chọn. Lịch năm có thể in vừa trên một trang A4
(sử dụng chức năng in của chương trình duyệt).
- Để xem
Can-Chi của một ngày, nhấn chuột vào ô hiển thị ngày đó. Nhấn chuột vào
dòng thứ hai (chứa tên các ngày trong tuần: CN, T2...) sẽ hiện thông tin về
chương trình.
Âm lịch Việt Nam qua các thời kỳ
lịch sử
Hồ Ngọc Đức
Âm lịch dùng tại Việt Nam
(mà đúng hơn phải gọi là âm-dương lịch) là loại lịch có nguồn gốc
tại Trung Quốc. Các hệ thống âm lịch đều được tính dựa trên những nguyên tắc cơ
bản giống nhau [2, 6]: tháng âm lịch bắt đầu vào ngày Sóc; tháng Nhuận đặt vào
tháng không có Trung khí. Trong lịch sử có nhiều giai đoạn người Việt sử dụng lịch
của Trung Quốc nhưng cũng có nhiều thời kỳ chúng ta tự tính âm lịch cho mình
dùng. Tuy dựa vào các nguyên tắc chung nhưng vì cách áp dụng nguyên tắc khi
tính lịch có thể khác nhau (chẳng hạn, xác định Sóc và Trung khí dựa trên chuyển
động thực hay chuyển động trung bình; hoặc tính lịch theo các múi giờ khác
nhau) nên âm lịch Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm khác biệt. Khi đọc các
tác phẩm lịch sử Việt Nam cổ chúng ta có thể nhận thấy nhiều khi ngày tháng ghi
trong đó khác với ngày tháng trong âm lịch Trung Quốc. Nhiều tháng trong sử ta
ghi là tháng nhuận nhưng trong lịch Tàu thì tháng đó không nhuận. Có tháng theo
lịch ta là tháng thiếu nhưng theo lịch Tàu lại là tháng đủ và ngược lại.
Âm lịch dùng tại Việt
Nam là lịch nào?
Dựa vào kết quả của một công
trình nghiên cứu công phu về lịch và lịch Việt Nam của giáo sư Hoàng Xuân Hãn
[2], chúng ta biết được trước năm 1945 tại Việt Nam dùng lịch nào và lịch đó
khác với lịch Trung Quốc ở những giai đoạn nào.
Thời Bắc
thuộc: Lịch Trung
Quốc được sử dụng tại Việt Nam.Từ nhà Ngô đến đầu nhà Lý (khoảng 939-1078): Có lẽ các vương triều đầu tiên của nước Việt Nam độc lập vẫn dùng lịch Tàu.
Nhà Lý và nhà Trần (1080-1300): Việt Nam tự tính lịch riêng (theo một phép lịch thời nhà Tống bên Trung Quốc). Có nhiều điểm khác biệt giữa lịch ta và lịch Trung Quốc trong giai đoạn này. Đáng tiếc là không có đủ tài liệu lịch sử để phục hồi lịch này.
Nhà Trần, Hồ và Lê (1306-1644): Thời kỳ này Việt Nam sử dụng lịch giống như lịch nhà Nguyên và Minh dùng tại Trung Quốc (có thể người Việt đã học được phép lịch Thụ Thời khi đi sứ nhà Nguyên khoảng 1300 và sau đó có thể tự tính lịch). Ngay cả trong thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh (1627 trở đi), các chúa Nguyễn ở miền Nam vẫn dùng lịch giống nhà Lê-Trịnh. Năn 1384 nhà Minh ở Trung Quốc đổi tên lịch Thụ Thời thành Đại Thống nhưng vẫn giữ nguyên cách tính. Cho đến hết đời Minh (1644) lịch ta và lịch Tàu không khác nhau.
Từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh đến đầu nhà Nguyễn (1645-1812): Việt Nam dùng lịch riêng, tính theo phép lịch Đại thống. Tại Trung Quốc, năm 1644 nhà Thanh lên đã dùng phép lịch mới (lịch Thời Hiến). Lịch ta và lịch Tàu khác nhau nhiều.
Thời Tây Sơn (1789-1801): Không rõ nhà Tây Sơn dùng lịch gì vì các văn kiện thời Tây Sơn sau bị phá hủy hết. Có lẽ Tây Sơn đã chuyển sang dùng lịch giống lịch nhà Thanh bên Trung Quốc (theo [2], tr. 949). Tại vùng chúa Nguyễn kiểm soát trong giai đoạn này vẫn sử dụng lịch của nhà Lê (tính theo phép lịch Đại Thống). Sau khi Gia Long lên ngôi vẫn duy trì lịch cũ (tên là lịch Vạn Toàn) đến 1812.
Thời nhà Nguyễn và thuộc Pháp (1813-1945): Dùng lịch Hiệp Kỷ (tính theo phép lịch Thời Hiến của nhà Thanh). Không có sự khác biệt giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc.
Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954): Có lẽ Việt Nam không còn cơ quan tính lịch riêng nên làm lịch theo sách Vạn niên thư của Trung Quốc. Như thế lịch ta và lịch Tàu không khác nhau.
Thời kỳ hai miền chia cắt (1955-1975): Âm lịch tại hai miền Bắc Nam có chỗ khác nhau (và khác với lịch Trung Quốc) do sử dụng các múi giờ khác nhau cho việc tính toán. Ở miền Bắc dùng múi giờ thứ 8 tới năm 1967 và múi giờ thứ 7 từ 1968 trở đi. Tại miền Nam sử dụng múi giờ thứ 8.
Từ 1976 trở đi: Cả nước Việt Nam tính lịch âm theo múi giờ thứ 7. Do khác múi giờ nên có nhiều điểm lịch ta và lịch Tàu khác nhau.
Ghi chú: Từ
1943 đến 1967 có vài lần thay đổi múi giờ chính thức, tuy nhiên có lẽ việc thay
đổi múi giờ chỉ liên quan tới việc tính giờ chứ không làm ảnh hưởng tới việc
tính ngày tháng âm lịch. Từ 01/01/1943 theo múi giờ thứ 8 (GMT+8, sớm hơn 1h so
với giờ chuẩn). Từ 1/4/1945 theo giờ Nhật Bản dùng múi giờ thứ 9. Từ 1/4/1947
quay trở lại dùng múi giờ thứ 8. Ở miền Nam từ 1/7/1955 sử dụng múi giờ thứ 7,
sau đó từ 1/1/1960 quay lại dùng múi giờ thứ 8. Ở miền Bắc thì từ 8/8/1967 trở
đi dùng múi giờ thứ 7 (trước đó theo múi giờ thứ 8). Phải từ 1968 trở đi âm lịch
tại miền Bắc và từ 1976 trong cả nước mới được tính dựa theo múi giờ chuẩn của
Việt Nam.
Chương trình tính âm
lịch VNCal
Chương trình tính âm lịch VNCal mà tôi thiết kế
(http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/) có chức năng tính lịch pháp
định ("Official calendar"). Đây là lịch được chính quyền đương thời
phát hành và cho sử dụng. Lịch này cũng có thể gọi là lịch chính thức, lịch
hành chính hay lịch lịch sử.
- Từ 900 đến
1300, chương trình hiển thị ngày tháng âm lịch của lịch Trung Quốc [5]. Những
dữ liệu này thật ra không hoàn toàn phù hợp với lịch Việt Nam trong khoảng
1080-1300 như ta đã biết, nhưng vì không có đủ tài liệu để tái tạo lịch
nên chưa thể khắc phục được.
- Từ 1301 đến
1945 âm lịch pháp định của Việt Nam được tính dựa theo nghiên cứu của
Hoàng Xuân Hãn [2]. Trong khoảng này có một thời gian dài (1645-1812) lịch
Việt Nam và lịch Trung Quốc khác nhau.
- Từ 1946 trở
đi lịch được tính theo các qui tắc hiện đại, áp dụng cho múi giờ chính thức
được dùng tại Việt Nam. (Cách tính lịch được miêu tả cụ thể tại [6]).
- Trong những
thời kỳ mà ở hai miền dùng hai loại âm lịch khác nhau (Tây Sơn-Nguyễn
1789-1802 và Bắc-Nam 1968-1975) thì chương trình hiển thị ngày tháng của cả
2 lịch chính thức nếu như những ngày tháng này khác nhau. Trong giai đoạn
1955-1975, ngày âm theo lịch miền Bắc được hiển thị ở góc phải bên dưới
(nơi bình thường vẫn in ngày âm lịch) và ngày tháng âm theo lịch miền Nam
được in trong ngoặc vuông ở góc phải bên trên (VD: [28/1]). Trong
giai đoạn 1789-1802, ngày tháng theo lịch Trung Quốc (mà có thể là nhà Tây
Sơn dùng -- điều này còn là nghi vấn) được hiển thị trong ngoặc vuông ở
góc phải bên trên.
- ************************************************.
- Thời kỳ lịch
sử ( Trích từ bài viết trên của Hồ
Ngọc Đức )
·
Từ nhà Ngô đến đầu nhà Lý (khoảng 939-1078):
·
Nhà Lý và nhà Trần (1080-1300):
·
Nhà Trần, Hồ và Lê (1306-1644)
·
Từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh đến đầu nhà Nguyễn (1645-1812):
·
Thời Tây Sơn (1789-1801):
·
Thời nhà Nguyễn và thuộc Pháp (1813-1945):
·
Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954):
·
Thời kỳ hai miền chia cắt (1955-1975):
Gốc Đan Phượng
tính theo Dương Lịch
Phần
này chuyển đổi từ Âm lịch sang Dương Lịch
từ Đời thứ IV của Gốc Họ Đỗ Đan Phượng đến đời thứ X , bởi chỉ để so sánh với Đời cụ Đỗ Đăng Nho ---và cụ Xã chỉnh có tương
thích niên giám tới đời cụ Xã Quang và cụ
Xã Chỉnh –Làng Hành Thiện .
Đời
thứ IV—Ngày Sinh --S — --
20 /6 /Quý Dậu==8 /8 /0
Ngày mất----M-- 27 /12 /Quý hợi==21 / 3 /0 thọ 52 tuổi.
Đời
thứ V--------------------S------- 24 / 9 /Mậu Tuất= 8 /11 / 0
------------------M-------12
/ 8 /Đinh Mão=27 / 9 /0
----------88------
Đời
thứ VI -----------------S --------- /-/
Bính Dần====--/ -- / 0
---------------M
--------23 / 3 /anh Thân==15 / 5 /0-----------98 -----
Đời
thứ VII ----------------S ---------12 / 9/ Đinh Sửu ==27 / 10 / 0
----------------M---------2
/ 6 /Đinh Dậu ===21 /7 / 0----------84------
Đời
thứ VIII----------------S --------1 / 5
/ Mậu Dần===20 / 6 / 0
---------------M----------19 / 4 / kỷ Hợi ===0 / 0 /
0-------------52------
Đời
thứ IX ----------------S------------2 /
6 / Canh Dần==21 / 7 / 0
---------------- M---------7 /1 / Canh Ngọ ===31 /1 / 0---------79------
Đời
thứ X ----------------S ------------13 / 9 /Giáp Thìn ==28 / 10 / 0
-----------------M-----------10 / 3 /Bính Tý ====2 / 5 /
0----------69----//
Dưới đây liệt kê ngày tháng năm chuyển
đổi để so sánh niên giám của ông Đỗ Đăng Nho
Ông
Đỗ Đăng Nho tiên sinh nhánh Đỗ Đăng Hành Thiện ( xem bài viếtcủa Đặng Đức An
) thi đậu Hiệu sinh --năm 1699
khoa thi Kỷ Mão ==1699
Và
được họ Đồng Nguyên lễ tế,làtổ khai khoa.
Đến Thời Nhà Nguyễn có 5 cụ Đỗ Tú tài ( như là
đỗ Hiệu Sinh ) gồm:
Đỗ Ngọc Bách
; Đỗ Ngọc Phổ ; Đỗ Bình Triết ; Đỗ Trình Cát ; Đỗ Kính .
Trước
đó, năm 1868--Mậu thìn có ử nhân võ khoa Đỗ Khắc Đán
Cụ Đán được thăng tới Hiệp quản –Thanh Hoá .(
xem thêm WikipediA---Đỗ Đăng Đệ --dể tìm mối quan hệ).
Trong
thời kỳ inh Nghĩa Thục có cụ Đỗ Văn Hoằng là một tướng tài của Khởi nghĩa Yên
Thế bị pháp xử bắnnăm 1909 –năm hoàn toàn Khởi nghĩa
Yên
Thế bị dập tắt . Trong phongtràoĐ K N T còn có cụ Đỗ Ngọc Tiên thường sinh hoạy
tại miếu Văn Xương.
Trong phả đồ của Đỗ chi Từ giong 5 có tên Đỗ
Ngọc Tiên là Thân sinh ông Đỗ Thái Chinh---Tham Chinh ;và tên ông Đỗ Trình Cát/hh
Soạn thảo--Wednesday, February 21, 2018 Đỗ Đăng Đích
Bạn vừa chọn ngày âm
lịch 25/12/mậu tý, kết quả
ngày dương lịch là: 6/2/1
Đời
thứ 18 từ gốc Đan Phượng--Lịch sử Phả
Đời
Thứ-- XVIII (–18)--Họ Đỗ huý –Khánh --hiệu --Hợp Thái--mất
mất
25 /12/Mậu Tý -
-Thọ 71 Tuổi
Bạn vừa chọn ngày âm
lịch 25/12/mậu tý, kết quả
ngày dương lịch là: 6/2/1
(Con trai ---Đời
4 của cụ Đỗ Trọng Triều ===đời thứ 18)
Đời
Thứ --XIX(--19) Đỗ Trọng Thiều
Con
thưứ 2 của cụ Đỗ TrọngThiều—là Đỗ Trọng
Ngẫu ;
Đời
Thứ --XX Đỗ Trọng Ngẫu
đời
thứ 20-- --ĐỗTrọng Ngẫu (mậu thân ) Mất
20 tháng 5 năm 1968 ; di cư vào nam 1955) –
thọ 69Tuổi.
( Mậu Thân)
Bạn vừa chọn ngày dương
lịch 20/5/1968, kết quả
ngày âm lịch là: 24/4/1968 Năm Mậu Thân
cụ
bà mát 29 /8 (âmlịch) 1984 Thọ 84 Tuổi
Bạn vừa chọn ngày âm
lịch 29/8/1984, kết quả
ngày dương lịch là: 24/9/1984
Nhận xét
Đăng nhận xét