Lịch Sử Pkả Đỗ Đăng Hành Thiện



M tài khon thành công
Tài khoản thành viên cho Chief Engi Đỗ Đăng Đích (thảo luận) đã được mở.***************** tiếng Việt
Bạn chính là tác giả của Wikipedia!
Mọi người đều có thể biên tập bài ngay lập tức, chỉ cần nhớ vài quy tắc. Có sẵn rất nhiều trang trợ giúp như tạo bàisửa bài hay tải ảnh. Bạn cũng đừng ngại đặt câu hỏi.
Hiện chúng ta có 1.168.538 bài viết và 589.126 thành viên.

************************************************************.

Theo WikipediA .

Âm lịch Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Hồ Ngọc Đức

 

Chương trình tính âm lịch VNCal

Chương trình tính âm lịch VNCal mà tôi thiết kế (http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/) có chức năng tính lịch pháp định ("Official calendar"). Đây là lịch được chính quyền đương thời phát hành và cho sử dụng. Lịch này cũng có thể gọi là lịch chính thức, lịch hành chính hay lịch lịch sử.
  • Từ 900 đến 1300, chương trình hiển thị ngày tháng âm lịch của lịch Trung Quốc [5]. Những dữ liệu này thật ra không hoàn toàn phù hợp với lịch Việt Nam trong khoảng 1080-1300 như ta đã biết, nhưng vì không có đủ tài liệu để tái tạo lịch nên chưa thể khắc phục được.
  • Từ 1301 đến 1945 âm lịch pháp định của Việt Nam được tính dựa theo nghiên cứu của Hoàng Xuân Hãn [2]. Trong khoảng này có một thời gian dài (1645-1812) lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc khác nhau.
  • Từ 1946 trở đi lịch được tính theo các qui tắc hiện đại, áp dụng cho múi giờ chính thức được dùng tại Việt Nam. (Cách tính lịch được miêu tả cụ thể tại [6]).
  • Trong những thời kỳ mà ở hai miền dùng hai loại âm lịch khác nhau (Tây Sơn-Nguyễn 1789-1802 và Bắc-Nam 1968-1975) thì chương trình hiển thị ngày tháng của cả 2 lịch chính thức nếu như những ngày tháng này khác nhau. Trong giai đoạn 1955-1975, ngày âm theo lịch miền Bắc được hiển thị ở góc phải bên dưới (nơi bình thường vẫn in ngày âm lịch) và ngày tháng âm theo lịch miền Nam được in trong ngoặc vuông ở góc phải bên trên (VD: [28/1]). Trong giai đoạn 1789-1802, ngày tháng theo lịch Trung Quốc (mà có thể là nhà Tây Sơn dùng -- điều này còn là nghi vấn) được hiển thị trong ngoặc vuông ở góc phải bên trên.

http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/JavaScript/?yy=1800&mm=3

Chương trình âm lịch bằng JavaScript

<<  <
3/1800
>  >>
CN
T2
T3
T4
T5
T6
T7












1
6/2
2
7
3
8
4
9
5
10
6
11
7
12
8
13
9
14
10
15
11
16
12
17
13
18
14
19
15
20
16
21
17
22
18
23
19
24
20
25
21
26
22
27
23
28
24
29
25
1/3
26
2
27
3
28
4
29
5
30
6
31
7










Tháng       Năm   
    
  • họCn một tháng của một năm trong khoảng 1800-2199 và nhấn chuột vào nút Xem lịch tháng để xem lịch của tháng đã chọn.
  • Kích chuột vào nút Xem lịch năm sẽ hiển thị lịch của cả năm đã chọn. Lịch năm có thể in vừa trên một trang A4 (sử dụng chức năng in của chương trình duyệt).
  • Để xem Can-Chi của một ngày, nhấn chuột vào ô hiển thị ngày đó. Nhấn chuột vào dòng thứ hai (chứa tên các ngày trong tuần: CN, T2...) sẽ hiện thông tin về chương trình.

Âm lịch Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Hồ Ngọc Đức

Âm lịch dùng tại Việt Nam (mà đúng hơn phải gọi là âm-dương lịch) là loại lịch có nguồn gốc tại Trung Quốc. Các hệ thống âm lịch đều được tính dựa trên những nguyên tắc cơ bản giống nhau [2, 6]: tháng âm lịch bắt đầu vào ngày Sóc; tháng Nhuận đặt vào tháng không có Trung khí. Trong lịch sử có nhiều giai đoạn người Việt sử dụng lịch của Trung Quốc nhưng cũng có nhiều thời kỳ chúng ta tự tính âm lịch cho mình dùng. Tuy dựa vào các nguyên tắc chung nhưng vì cách áp dụng nguyên tắc khi tính lịch có thể khác nhau (chẳng hạn, xác định Sóc và Trung khí dựa trên chuyển động thực hay chuyển động trung bình; hoặc tính lịch theo các múi giờ khác nhau) nên âm lịch Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm khác biệt. Khi đọc các tác phẩm lịch sử Việt Nam cổ chúng ta có thể nhận thấy nhiều khi ngày tháng ghi trong đó khác với ngày tháng trong âm lịch Trung Quốc. Nhiều tháng trong sử ta ghi là tháng nhuận nhưng trong lịch Tàu thì tháng đó không nhuận. Có tháng theo lịch ta là tháng thiếu nhưng theo lịch Tàu lại là tháng đủ và ngược lại.

Âm lịch dùng tại Việt Nam là lịch nào?

Dựa vào kết quả của một công trình nghiên cứu công phu về lịch và lịch Việt Nam của giáo sư Hoàng Xuân Hãn [2], chúng ta biết được trước năm 1945 tại Việt Nam dùng lịch nào và lịch đó khác với lịch Trung Quốc ở những giai đoạn nào.
Thời Bắc thuộc: Lịch Trung Quốc được sử dụng tại Việt Nam.
Từ nhà Ngô đến đầu nhà Lý (khoảng 939-1078): Có lẽ các vương triều đầu tiên của nước Việt Nam độc lập vẫn dùng lịch Tàu.
Nhà Lý và nhà Trần (1080-1300): Việt Nam tự tính lịch riêng (theo một phép lịch thời nhà Tống bên Trung Quốc). Có nhiều điểm khác biệt giữa lịch ta và lịch Trung Quốc trong giai đoạn này. Đáng tiếc là không có đủ tài liệu lịch sử để phục hồi lịch này.
Nhà Trần, Hồ và Lê (1306-1644): Thời kỳ này Việt Nam sử dụng lịch giống như lịch nhà Nguyên và Minh dùng tại Trung Quốc (có thể người Việt đã học được phép lịch Thụ Thời khi đi sứ nhà Nguyên khoảng 1300 và sau đó có thể tự tính lịch). Ngay cả trong thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh (1627 trở đi), các chúa Nguyễn ở miền Nam vẫn dùng lịch giống nhà Lê-Trịnh. Năn 1384 nhà Minh ở Trung Quốc đổi tên lịch Thụ Thời thành Đại Thống nhưng vẫn giữ nguyên cách tính. Cho đến hết đời Minh (1644) lịch ta và lịch Tàu không khác nhau.
Từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh đến đầu nhà Nguyễn (1645-1812): Việt Nam dùng lịch riêng, tính theo phép lịch Đại thống. Tại Trung Quốc, năm 1644 nhà Thanh lên đã dùng phép lịch mới (lịch Thời Hiến). Lịch ta và lịch Tàu khác nhau nhiều.
Thời Tây Sơn (1789-1801): Không rõ nhà Tây Sơn dùng lịch gì vì các văn kiện thời Tây Sơn sau bị phá hủy hết. Có lẽ Tây Sơn đã chuyển sang dùng lịch giống lịch nhà Thanh bên Trung Quốc (theo [2], tr. 949). Tại vùng chúa Nguyễn kiểm soát trong giai đoạn này vẫn sử dụng lịch của nhà Lê (tính theo phép lịch Đại Thống). Sau khi Gia Long lên ngôi vẫn duy trì lịch cũ (tên là lịch Vạn Toàn) đến 1812.
Thời nhà Nguyễn và thuộc Pháp (1813-1945): Dùng lịch Hiệp Kỷ (tính theo phép lịch Thời Hiến của nhà Thanh). Không có sự khác biệt giữa lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc.
Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954): Có lẽ Việt Nam không còn cơ quan tính lịch riêng nên làm lịch theo sách Vạn niên thư của Trung Quốc. Như thế lịch ta và lịch Tàu không khác nhau.
Thời kỳ hai miền chia cắt (1955-1975): Âm lịch tại hai miền Bắc Nam có chỗ khác nhau (và khác với lịch Trung Quốc) do sử dụng các múi giờ khác nhau cho việc tính toán. Ở miền Bắc dùng múi giờ thứ 8 tới năm 1967 và múi giờ thứ 7 từ 1968 trở đi. Tại miền Nam sử dụng múi giờ thứ 8.
Từ 1976 trở đi: Cả nước Việt Nam tính lịch âm theo múi giờ thứ 7. Do khác múi giờ nên có nhiều điểm lịch ta và lịch Tàu khác nhau.
Ghi chú: Từ 1943 đến 1967 có vài lần thay đổi múi giờ chính thức, tuy nhiên có lẽ việc thay đổi múi giờ chỉ liên quan tới việc tính giờ chứ không làm ảnh hưởng tới việc tính ngày tháng âm lịch. Từ 01/01/1943 theo múi giờ thứ 8 (GMT+8, sớm hơn 1h so với giờ chuẩn). Từ 1/4/1945 theo giờ Nhật Bản dùng múi giờ thứ 9. Từ 1/4/1947 quay trở lại dùng múi giờ thứ 8. Ở miền Nam từ 1/7/1955 sử dụng múi giờ thứ 7, sau đó từ 1/1/1960 quay lại dùng múi giờ thứ 8. Ở miền Bắc thì từ 8/8/1967 trở đi dùng múi giờ thứ 7 (trước đó theo múi giờ thứ 8). Phải từ 1968 trở đi âm lịch tại miền Bắc và từ 1976 trong cả nước mới được tính dựa theo múi giờ chuẩn của Việt Nam.

Chương trình tính âm lịch VNCal

Chương trình tính âm lịch VNCal mà tôi thiết kế (http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/) có chức năng tính lịch pháp định ("Official calendar"). Đây là lịch được chính quyền đương thời phát hành và cho sử dụng. Lịch này cũng có thể gọi là lịch chính thức, lịch hành chính hay lịch lịch sử.
  • Từ 900 đến 1300, chương trình hiển thị ngày tháng âm lịch của lịch Trung Quốc [5]. Những dữ liệu này thật ra không hoàn toàn phù hợp với lịch Việt Nam trong khoảng 1080-1300 như ta đã biết, nhưng vì không có đủ tài liệu để tái tạo lịch nên chưa thể khắc phục được.
  • Từ 1301 đến 1945 âm lịch pháp định của Việt Nam được tính dựa theo nghiên cứu của Hoàng Xuân Hãn [2]. Trong khoảng này có một thời gian dài (1645-1812) lịch Việt Nam và lịch Trung Quốc khác nhau.
  • Từ 1946 trở đi lịch được tính theo các qui tắc hiện đại, áp dụng cho múi giờ chính thức được dùng tại Việt Nam. (Cách tính lịch được miêu tả cụ thể tại [6]).
  • Trong những thời kỳ mà ở hai miền dùng hai loại âm lịch khác nhau (Tây Sơn-Nguyễn 1789-1802 và Bắc-Nam 1968-1975) thì chương trình hiển thị ngày tháng của cả 2 lịch chính thức nếu như những ngày tháng này khác nhau. Trong giai đoạn 1955-1975, ngày âm theo lịch miền Bắc được hiển thị ở góc phải bên dưới (nơi bình thường vẫn in ngày âm lịch) và ngày tháng âm theo lịch miền Nam được in trong ngoặc vuông ở góc phải bên trên (VD: [28/1]). Trong giai đoạn 1789-1802, ngày tháng theo lịch Trung Quốc (mà có thể là nhà Tây Sơn dùng -- điều này còn là nghi vấn) được hiển thị trong ngoặc vuông ở góc phải bên trên.
  • ************************************************.
  • Thời kỳ lịch sử ( Trích từ  bài viết trên của Hồ Ngọc Đức )
  •  
·        Từ nhà Ngô đến đầu nhà Lý (khoảng 939-1078): 
·        Nhà Lý và nhà Trần (1080-1300): 
·        Nhà Trần, Hồ và Lê (1306-1644)
·        Từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh đến đầu nhà Nguyễn (1645-1812): 
·        Thời Tây Sơn (1789-1801): 
·        Thời nhà Nguyễn và thuộc Pháp (1813-1945): 
·        Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946-1954): 
·        Thời kỳ hai miền chia cắt (1955-1975): 


Gốc Đan Phượng tính theo Dương Lịch
Phần này chuyển đổi từ Âm lịch sang  Dương Lịch từ Đời thứ IV của Gốc Họ Đỗ Đan Phượng đến đời thứ X , bởi chỉ để so sánh với  Đời cụ Đỗ Đăng Nho ---và cụ Xã chỉnh có tương thích niên giám tới đời cụ Xã Quang và  cụ Xã Chỉnh –Làng Hành  Thiện .
Đời thứ IV—Ngày Sinh  --S  — --   20 /6 /Quý Dậu==8 /8 /0
                      Ngày mất----M--      27 /12 /Quý hợi==21 / 3 /0       thọ 52 tuổi.

Đời thứ V--------------------S------- 24 / 9 /Mậu Tuất= 8 /11 / 0
                   ------------------M-------12 / 8 /Đinh Mão=27 / 9 /0  ----------88------
Đời thứ  VI -----------------S --------- /-/ Bính Dần====--/ -- / 0
                     ---------------M --------23 / 3 /anh Thân==15 / 5 /0-----------98 -----
Đời thứ VII ----------------S ---------12 / 9/ Đinh Sửu ==27 / 10 / 0
                    ----------------M---------2 / 6 /Đinh Dậu ===21 /7 / 0----------84------

Đời thứ VIII----------------S  --------1 / 5 / Mậu Dần===20 / 6 / 0
                     ---------------M----------19 / 4 / kỷ Hợi ===0 / 0 / 0-------------52------

Đời thứ  IX ----------------S------------2 / 6 / Canh Dần==21 / 7 / 0
                  ---------------- M---------7 /1 / Canh Ngọ ===31 /1 / 0---------79------
Đời thứ X ----------------S ------------13 / 9 /Giáp Thìn ==28 / 10 / 0
               -----------------M-----------10 / 3 /Bính Tý ====2 / 5 / 0----------69----//
            Dưới đây liệt kê ngày tháng năm chuyển đổi để so sánh niên giám của ông Đỗ Đăng Nho
Ông Đỗ Đăng Nho tiên sinh nhánh Đỗ Đăng Hành Thiện ( xem bài viếtcủa Đặng Đức An )  thi đậu Hiệu sinh  --năm 1699  khoa thi Kỷ Mão ==1699
Và được họ Đồng Nguyên lễ tế,làtổ khai khoa.
 Đến Thời Nhà Nguyễn có 5 cụ Đỗ Tú tài ( như là đỗ Hiệu Sinh ) gồm:
 Đỗ Ngọc Bách  ; Đỗ Ngọc Phổ ; Đỗ Bình Triết ; Đỗ Trình Cát ; Đỗ Kính .
Trước đó, năm 1868--Mậu thìn có ử nhân võ khoa Đỗ Khắc Đán
  Cụ Đán được thăng tới Hiệp quản –Thanh Hoá .( xem thêm WikipediA---Đỗ Đăng Đệ --dể tìm mối quan hệ).
Trong thời kỳ inh Nghĩa Thục có cụ Đỗ Văn Hoằng là một tướng tài của Khởi nghĩa Yên Thế bị pháp xử bắnnăm 1909 –năm hoàn toàn Khởi nghĩa






Yên Thế bị dập tắt . Trong phongtràoĐ K N T còn có cụ Đỗ Ngọc Tiên thường sinh hoạy tại miếu Văn Xương.
  Trong phả đồ của Đỗ chi Từ giong 5 có tên Đỗ Ngọc Tiên là Thân sinh ông Đỗ Thái Chinh---Tham Chinh  ;và tên ông Đỗ Trình Cát/hh

 Soạn thảo--Wednesday, February 21, 2018  Đỗ Đăng Đích

Bạn vừa chọn ngày âm lịch 25/12/mậu tý, kết quả
ngày dương lịch là: 6/2/1
Đời thứ 18 từ gốc Đan Phượng--Lịch sử Phả
Đời Thứ-- XVIII (–18)--Họ Đỗ huý –Khánh --hiệu --Hợp Thái--mất
mất 25 /12/Mậu Tý -                                                               -Thọ 71   Tuổi
Top of Form
Bottom of Form
Bạn vừa chọn ngày âm lịch 25/12/mậu tý, kết quả
ngày dương lịch là: 6/2/1


                                (Con trai ---Đời 4 của cụ Đỗ Trọng Triều ===đời thứ 18)
Đời Thứ --XIX(--19)  Đỗ Trọng Thiều

Con thưứ  2 của cụ Đỗ TrọngThiều—là Đỗ Trọng Ngẫu  ;
Đời Thứ --XX  Đỗ Trọng Ngẫu
đời thứ  20-- --ĐỗTrọng Ngẫu (mậu thân ) Mất 20 tháng 5 năm 1968 ; di cư vào nam 1955) –
                                thọ 69Tuổi.
                                                                                                                 ( Mậu Thân)
Top of Form
Bottom of Form
Bạn vừa chọn ngày dương lịch 20/5/1968, kết quả
ngày âm lịch là: 24/4/1968 Năm Mậu Thân

cụ bà mát 29 /8 (âmlịch) 1984  Thọ   84 Tuổi
Top of Form
Bottom of Form
Bạn vừa chọn ngày âm lịch 29/8/1984, kết quả
ngày dương lịch là: 24/9/1984

Bottom of Form








Top of Form
Bottom of Form
&&&&
 Tý-  Sửu-  Dần  -Mão-  Thìn -   Tỵ-  Ngọ-    Mùi-    Thân-    Dậu-  Tuất-  Hợi-.
1       2         3       4        5          6      7        8      9         10       11      12


 Giáp---Ất---Bính--Đinh-- Mậu--- Kỷ---Canh---Tân-- -Nhâm---Quý-./Giáp   Ất
 1          2       3        4          5           6      7          8             9         10     
Bạn vừa chọn ngày âm lịch 25/12/mậu tý, kết quả
ngày dương lịch là: 6/2/1

 Tý-  Sửu-  Dần  -Mão-  Thìn -   Tỵ-  Ngọ-    Mùi-    Thân-    Dậu-  Tuất-  Hợi-.

Giáp---Ất---Bính--Đinh-- Mậu--- Kỷ---Canh---Tân-- -Nhâm---Quý-./
                                                                                                        Giáp    Ất
 1        2       3      4         5          6      7          8          9         10       11     12
                                                                                                      GiápTý  ẤtSửu-                                                                                  

                  13     14      15        16     17       18          19        20       21     22
            Bính      Đinh-- Mậu---  Kỷ---Canh---Tân-- -Nhâm-- -Quý./ Giáp    Ất
            Dần       -Mão-  Thìn -  Tỵ-    Ngọ-    Mùi-    Thân-    Dậu-  Tuất-   Hợi-.

 23              24      25      26        27      28       29         30       31      32    33      34
Bính-     -Đinh--  Mậu--- Kỷ--  -Canh---Tân-- -Nhâm-- Quý-./ Giáp    Ất    Bính   Đinh
Tý-         Sửu-    Dần  -  Mão-  Thìn -   Tỵ-     Ngọ-     Mùi- Thân-    Dậu  Tuất   Hợi-./






1                   2                   3                 4                      5                    6    
Giáp- Tý      Ất-  Sửu-       Bính  Dần    Đinh  Mão       Mậu  Thìn      Kỷ Tỵ
 I (1)
7                   8                  9                   1 0                  11                  12
Canh Ngọ    Tân Mùi      Nhâm Thân    Quý Dậu        Giáp Tuất       Ất Hợi




Top of Form
Ngày Âm lịch là Thứ Bảy 8 - 8 - 1904 là ngày 17 tháng 9 năm 1904 . Theo Can chi : Ngày Giáp Dần Tháng Quý Dậu Năm Giáp Thìn



Ngày Âm lịch là Thứ Hai 8 - 8 - 1984 là ngày 3 tháng 9 năm 1984 . Theo Can chi : Ngày Canh Tí Tháng Quý Dậu Năm Giáp Tí -- Thọ 80  Tuổi
Thọ 80 TuổiBottom of Form


Dương lịch (Thứ Sáu 02/05/1062)
Âm lịch (27/03/1062)
Ngày: 2
Ngày: Nhâm Tuất
Tháng: 5
Tháng: Giáp Thìn
Năm: 1062
Năm: Nhâm Dần






M tài khon thành công
Tài khoản thành viên cho Chief Engi Đỗ Đăng Đích (thảo luận) đã được mở.***************** tiếng Việt
Bạn chính là tác giả của Wikipedia!
Mọi người đều có thể biên tập bài ngay lập tức, chỉ cần nhớ vài quy tắc. Có sẵn rất nhiều trang trợ giúp như tạo bàisửa bài hay tải ảnh. Bạn cũng đừng ngại đặt câu hỏi.
Hiện chúng ta có 1.168.538 bài viết và 589.126 thành viên.

 

 

Nhà thờ họ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nhà thờ họ hay từ đường là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha). Nhà thờ họ phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.
Chi họ lớn, sau khi đã phân chi thì nhà thờ của dòng trưởng nam sẽ là nới nơi thờ phụng từ đời ông thủy tổ, nơi giữ gia phả gốc, nhà thờ này sẽ được gọi là nhà thờ đại tôn. Các nhánh họ khác đều có nơi thờ cúng riêng từ đời ông tổ chi trưởng, gọi là nhà thờ chi họ (hay cửa họ).
Nhà thờ họ sẽ được xây cất với quy mô, kiến trúc phụ thuộc vào khả năng tài chính và đóng góp của các suất họ (từng thành viên nam) và theo địa vị xã hội của những người vai vế trong dòng họ. Phần nội thất, gian giữa thường kiến trúc kiểu mở rộng ra phía tường hậu (chuôi vồ) để xây bệ thờ. Trên bệ thờ đặt các linh toạ hoặc giá gương hoặc (vì tay ngai chạm hình rồng nên còn có tên khác là long ngai). Ngai sẽ là nơi để bài vị tổ tiên hoặc là một ống quyển, hoặc khối hộp chữ nhật sơn son thiếp vàng đứng chứa đựng gia phả, có phủ nhiễu điều bên ngoài. Nơi đây là nơi được xem là linh thiêng nhất, nơi mà linh hồn tổ tiên sẽ ngự trị.
Hằng năm, ngày lễ giỗ tổ tiên tại nhà thờ họ là dịp hội họp lớn nhất của tộc họ, nó đồng thời cũng là dịp để đại bộ phận có xu hướng khuếch đại quan hệ họ hàng", nối lại mối quan hệ lỏng lẻo.[1]
Trong tiếng Việt, nhà thờ họ cũng dùng để chỉ nhà thờ của giáo họ (phân cấp nhỏ hơn giáo xứ) Công giáo.
·        2Tham khảo

Nhà thờ họ tiêu biểu ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ họ cấp quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ họ cấp quốc gia là công trình nhà thờ, khu tưởng niệm cho toàn bộ những người mang chung một họ ở Việt Nam. Hiện nay đã có nhiều nhà thờ họ cấp quốc gia được xây dựng như:
·        Nhà thờ họ Đỗ Việt Nam được xây dựng cạnh khu mộ Tổ họ Đỗ (Đậu) Việt Nam phường Phú La, quận Hà Đôngthành phố Hà Nội.
·        Nhà thờ họ Trương Việt Nam được xây dựng tại thị trấn Thiên TônHoa LưNinh Bình.
·        Đền thờ tổ họ Trần Việt Nam - xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
·        Nhà thờ họ Hồ Việt Nam ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Nhà thờ dòng họ.

===============
Những điều kiêng kỵ với bàn thờ
- Kiêng đặt tượng thần thánh trong phòng ngủ đặc biệt là phòng của vợ chồng.
- Kiêng kỵ về cách cục, trong phong thủy bàn thờ được coi như kháo sơn, cần đặt ở nơi có sơn tinh đang vượng. Như năm nay chúng ta đang ở trong vận 8, bàn thờ nên đặt nơi có Cửu Tử hay Nhất Bạch đáo sơn.
- Kiêng kỵ về thời gian lập bàn thờ: Việc lập bàn thờ thường được tiến hành đồng thời với nhập trạch, nên việc lựa chọn thời gian có ý nghĩa vô cùng quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống sau này. Ngoài thời gian phù hợp với nhập trạch, cúng tế hay hợp tuổi gia chủ, người ta còn chú ý đến thời điểm có sao Bát Bạch để hóa giải sát khí.
- Kiêng kỵ về người lập bàn thờ: Người xưa cho rằng phụ nữ mang thai có nhiều tạp khí, không nên động chạm vào bàn thờ hay bát hương. Hơn nữa, người bốc bát hương nên là gia chủ, chứ không nhất thiết phải nhờ người khác, cốt sao là sự thành tâm và tay chân sạch sẽ khi thực hiện.
- Kiêng kỵ về bố trí trên bàn thờ: Bàn thờ là nơi thờ cúng gia tiên chứ không phải nơi phô trương hay trưng bày, những thứ không liên quan đến thờ cúng không bày lên bàn thờ, nhất là giấy công đức ở đình chùa. Nếu thờ gia tiên cùng Phật hay thờ mẫu, cần tách riêng bàn thờ Phật hay thờ mẫu, bàn thờ gia tiên để thấp hơn và tách biệt.
- Kiêng kỵ về đồ lễ trên bàn thờ: Quan trọng nhất là hương hoa, tức hương thắp, hoa quả tươi, hoa tươi và nước sạch. Tránh các loại đồ giả như hoa quả nhựa. Đồ thờ cúng xong rồi nên bỏ xuống để thụ lộc, tránh bày để từ tháng này qua tháng khác. Không nên để lễ mặn, hay tiền mặt lên bàn thờ.


*********************************************.
   VỀ BÀN THƠ Cụ XÃ QUANG --ĐỖ ĐƯC QUANG
 Và CHI HỌ  ĐỖ ĐĂNG HÀN THIỆN
***********************************.
Vấn đề tìm mộ chí ồn Đỗ Hữu Chỉnh –ông Xã Chỉnh đã được tìm kiếm từ lâu và đã được xác định từ cuối thế kỷ trước (1999) và được xây lại vào năm 2003 tại Nghĩa trang Tiên Sơn sau Chùa Keo Hàng Thiện. Đồng thời việc viết gia phả ---Lịch sử Phả cũng được tiến hành từ khi Cháu nội thứ2 của ông Xã chỉnh còn đương thờitrong những năm của thập kỷ cuối  thế kỷ 20 và rồi được biên soạn chỉ có chi nhánhtừ ông Đỗ Hữu Chỉnh và đó là tập Lịch sử -Phả đầu tiên cuẩ nhánh họ Đỗ Hữu chỉnhđược xem như của Chi họ Đỗ ĐĂng Hành Thiện ,doCháu út nội ông Xã Chỉnhbổ sung,biên soạn và in trên máy in gia đình.
  Theo Nguyện vọng và yêu cầu của cháu nội ông Xã Chỉnh là ông Đỗ ĐăngThâm --tức Lê Thanh Bình, vào năm 2014toàn nhánh họ nhà ông Xã Chỉnhđã tập họp về Lang Hành Thiện và giôc Cụ, Ông Xã Chỉnhđúng ngày mất --Ngàygiỗ ---27 Tháng Giêng .Từ đó,hằng năm cháuchắt nội ngoạhả trở nên có ý nghĩa rất quan trong và là vấn đề cốt lõi trong tộc họ cũng như trong nhánh họ Đỗ Đănng làng Hành Thiện .
Qua mấy năm vừa qua có điều kiện thuận tiện nên việc bổ sung và từ đó viết về Chi họ Đỗ Đăng HànhThiện thuận lợi bởi đã biết được những kỳlão đương thời trong làng cũng như trên mạng (on line) Internet qua Các bài viết trwn WikipediA , Facebook của các bạn và trong các nhóm với các bài viết và tư liệu đáng tin cậy , vì vậyvấn đề lịch sử Phả của Chi họ Đỗ ĐăngLàng Hành Thiện thêm sáng rõ và đủ hơn , cho phépxác định Chi họ Đỗ ĐăngHành Thiện mà trong khi đó tại Tộc đồ của TừĐường Đỗ Đại Tôn Hành Thiện không ghi rõ và không ghi đủ .Quá trình lập lại Tộc Phả nhiều đời cuảTwfĐường Họ Hỗ thìTác giả bài này đã được biết khi mới bắt đầu chắp nối từ cuối những năm của thập kỷ trong thế kỷ trước khi mà người tập họpthông báo và gọi về làng để chắp bút , đã không có gia tộc của cụ Xã Chỉnh và Dòng tộc cụ Xã Quang không đây đủ và chưa rõ ràng .
  Đến nay , tại Làng có Từ Đường Đỗ Đại Tôn ( xóm 8) và Đỗ Chi Từ ( Xóm 5) . Từ Đường xóm 5 --Đỗ Chi Từ có ttọc Phả của cụ Đỗ Đức Định bao gồm Cụ Xã Quang--Đỗ ĐứcQuang nhưng khuyết một người con Cụ Qua là Cụ Đỗ Hữu Chỉnh –gia tộc Đỗ Đăng Hành Thiện .
  Đến nay đã xác định được gia tộc của Cụ Đỗ Hữu chỉnh và gia tộc của anh em con cháu cụ Đỗ ĐỨc Quang tại làng cr về các cháu chắt cũng nhe Mộ chí của các cụ đều  cùng một miếng đất trong Nghĩa trang Tiên Sơn Hành Thiện.
 
 Dưới đây sẽ bổ sung những chi tiết về các kỳ lãovà Tiên sinh dòng tộc Đỗ Đăng .
    Tiên sinh là Cụ Đỗ Đăng Nho                   
    Cụ Đỗ Đăng Nho thi đậu khoa thi năm Kỷ Mão –1899
             Học vỵ không cao --hiệu sinh  tương đương Tú tài kỳ Hán học
  Là tổ khai khoa của họ Đỗ và được họ Đồng Nguyên làm lễ tế .
Đến thời Nhà Nguyễn ( Thời Hán Học), Làng Hành Thiện có 5 Cụ Đỗ Tú Tài ,trong đó :
 Cụ Đỗ Ngọc Bách , và Cụ Đỗ Trình Cát , hai cụ Bách và Cụ Cát ,theo Tộc Phả Đỗ Chi Từ xóm 5 là con (hậu duệ) của cụ Đỗ Đức Quang thuộc chi họ Tiên sinh Đỗ Đăng Nho. 
{ Từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh đến đầu nhà Nguyễn (1645-1812): 
Thời Tây Sơn (1789-1801): 
Thời nhà Nguyễn và thuộc Pháp (1813-1945):}

Theo giaPhả ban đầu do ông Đặng Đỗ Tốt ( Cháu nội ông Xã Chỉnh) để
lại  thì :
  Tiên sinh là c ụ Đỗ Đăng Nho, Đời thứ  7 --là Cụ  Đỗ Đức Bốn và
                                                            Đời thư 10-- là cụ Đỗ Đức Quang ;  
                                                            Đời thứ 13 --là cụ Xã Chỉnh
 và Ông Đặng Đỗ Tốt là Hậu duệ đời thứ 14; tính từ Cụ Tiên sinh Đỗ Đăng Nho Hành Thiện ( Thế kỷ 17 cách đây 400 năm )
                     ( T ác giả Soạn Thảo --Kỹ Sư Trưởng -Uỷ ban khoa học & Kỹ Thuật T ỉnh Hà-Nam-Ninh__Hậu duệ Đời thứ XIV của cụ Tiên Sinh Đỗ Đăng Nho)





Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN

LỊCH SỬ PHẢ ĐỖ ĐĂNG HÀNH THIỆN