KÝ ỨC THÁNG TƯ
Tháng Tư , bắt đầu là mùa Hoa Phượng và cũng sắp sửa là những bông trắng bay của một mùa hoa gạo trên thành phố nhổ bé và đầy kỷ niệm , ký ức của một thời thơ ấu và một thời trẻ trai , hồn nhiên và trong trắng như những cánh hoa lưng chừng trời trên vườn hoa với cây cổ thụ , một nỗi lòng mỗi khi mùa hè bắt đầu và là tháng Tư .
Tháng Tư năm ấy 1954 cũng gần như tháng tư 1975 ,bọn xâm lược Mỹ-Pháp bắt đầu rút hết đội quân viễn chinh của chúng đi khỏi Việt Nam , Hơn 20 năm trôi đi , một quãng lịch sử đủ cho một thời thế thay đổi và tuổi áu thơ trở thành một thanh niên đấy sức sống với đủ mọi ước mơ và hoã bão mà ở cái tuổi này trí nhớ và ký ức khó có thể phai mờ.
Mới chưa đầy 12 tuổi ,nhưng những cảnh rút quân khỏi thành phố mà tôi được chứng kiến năm 1954 , lúc bấy giờ vừa muốn cười lại vừa sợ ; Mẹ con tôi ở thuê nhà ngay cổng sau nhà máy sợi Nam Định , cạnh một Nhà Thổ tời thuộc pháp xê xế với lô cốt của bọn tây đen thường xì xồ và bắn nhau khi đêm đã về khuya và con đường bé nhỏ ngắn tũn ấy nay vẫn còn ngôi nhà hai tầng ấy . Chiều xuống , một quán bên hè cạnh nhà thổ này bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng bà chủ quán nói to vọng tới cổng sau máy sơih : "ắt -tăng-tí ti " ,cái tiếng tây bồi ấy nghĩa là đợi một chút , bà ta vưa nói vừa vội vã dọn hàng về nhà khi bọn tây đen gác ổng băn một loạt sũng nổ vang cả buổi chiều vừa mới bắt đầu . Chẳng hiểu bọn Tây đên muốn gì , bà ta vừa dọn hàng chạy vừa nhắc lại mấy tiién tây bồi ấy và kêu xong thì lại moọt loạt đạn bắn lên trời nổ ran , cứ sau tiếng Ắt tăng thì lại một loạt đạn nổ cho đến khi mấy thằng tây đen mất hút và cánh cổng sau nhà máy đóng lại . Từ đó , cả chiều hôm ,buổi tối thành phố vắng lặng , hầu như không ai dám ra khỏi nhà . Mãi tới trưa hôm sau toi mới thấy vài ông mặc áo nâu mang lựu đạn đi ở vài phố vắng lặng . Thành phố chẳng ai làm gì , chẳng ai cai quản , không một bóng lính tây , lính bảo chính đoàn và hàng tuần như vậy , nhiều anh thanh niên đi đến nơi công cộng tháo rỡ lấy tôn ở các trại lính tây đen đóng trên phố , nhất là Quảng trường bây giờ ,lúc ấy gọi là nhà tôn vì tất tần tật nhà doanh trại lính tây đen trđóng quân dều là tôn . Bắt chước người lớn , bọn trẻ con chúng tôi đã thôi học rất tự nhiên được một tuần tự do chẳng ai cai quản ,tha hồ đến công sở của các quan , chính quyền , đặc biệt là Toà Tỉnh trưởng để phá phách , cười đùa vô tư rồi nhặt những thứ thấy dùng được như cùng nhau khuân những chiếc ghế gỗ đẹp về nhà ,còn giấy tờ bia rượu trong toà thì tha hồ tung hê từ gác hai xuốn đất lấy làm khoái trá lắm ; cho tới hàng tuần lễ mới có các ông du kích vào phố gọi hàng xóm và mẹ tôi đi họp vào buổi tối ,, rồi thành phố cũng trở lại hoạt động bình thường và tôi được đến trường cũ --Trường Con gái--Trường Tiểu học Lê Chân để đang ký tiếp tục đi học và tôi học lại lớp nhất cũng với các thầy giáo đã dạy chúng tôi thời
pháp ; nhưng trước khi trở lại trường có chừng hơn một tháng tôi đi làm để kiếm sống giúp mẹ đang chưa có việc làm vì nhà máy đang đóng cửa , tuy mới chưa đủ 12 tuổi nhưng tôi vẫn phải đẩy chiếc xe bò và cũng có khi phải cầm càng , cái xe con bò kéo để đi thu gom ống gang , gạch chịu lửa củ nhà máy rượu về cho sở Tài chính Thành thf phhó , thành phô bấy giờ trực thuộc Liên khu 3 chứ không thuộc Tỉnh như bây giờ . Nghĩa là , những ngày thành phố Nam Định khi quân Pháp rút đi và chính quyền cũ cũng suy xụp và chúng tôi sống trong nhịp sống mới dưới mái trường tiểu học cũ rồi tiếp tục len trường Thành Trung vẫn theo hệ thóng thời pháp đến mãn một một năm học Thành trung sau lớp nhất của tiểu học .
Những ngày tháng Tư năm 1954 rồi cũng mau chóng trôi vào lãng quên , nhưng lại đén những ngày tháng tư không thể quên khi tôi đã là một thanh niên 19 tuổi -- một Thợ Tiện được đào tạo khá là cẩn thận trong lớp thợ trẻ trong những năm 60 của thập kỷ trước . Tháng tư trên thành phố vần chẳng có gì thay đổi đối với tôi nếu như tôi không bị gọi nhập ngũ vào đầu mùa hè 1962 ấy .. Những ngày này của năm ấy tôi đang nghỉ việc và chuâr bị cho ngày lên đường rời cuộc sống thanh bình lao động và mê mải học tập để vào một môi trường mà chẳng thanh niên nào muốn , ấy là Quân đội nhân dân V.N . Năm ấy có lệnh của nhà nước mới ban ra là không một lý do nào có thể cho phép cơ quan xí nghiệp giữ lại thanh niên đx được gọi nhập ngũ làm nghĩa vụ quân sự ; và như thế tôi đang là một tương lai đào tạo của nhà máy cơ khí nhưng cũng phỉ nhập ngũ không cho ai thay thế ; bởi vậy tôi là người cuối cùng rời khỏi nơi giao nhận quân ở nhà hát nhân dân thành phố được ông Chính trị viên phó tiểu đoàn huấn luyện Hải Quân Căn cứ II đèo xe đạp về nơi nhận quân trang và chuẩ ị lên đường rời xa thành phố .
Chunbgs tôi ra đi , rời khỏi nhà máy luôn chỉ nghĩ đến làm xong nghĩa vụ rồi lại quay về với đời thợ của mình mà thôi . Bấy giờ mẹ tôi buồn lắm , Bà phải rời xa đứa con trai duy nhất của mình mà đã sống cùng bà trong mọi hoàn cảnh đối no vất vả và phải đến 4 , 5 năm nữa nó mới trở về .
Những Ngày tháng tư năm ấy , chúng tôi trong sắc phục lính thuỷ mùa hè , chưa biết đi về đâu và chưa biết đời lính ra sao đaqxlên tầu hoả đi về phioá Nam và chỉ đến Đò Lèn ( khi đó chưa có cầu Hàm Rồng ) và bắt đầu một cuộc hành quân bộ trên dọc đường 1 dưới trời nắng chanhg chang , năm ấy suốt 12 ngày hành quân vào Chợ Tràng Hng Nguyên , bên bờ sông Lam , bên con đê là đường 8 sang lào , chúng tôi đi hàng ngũ chỉnh tề không như đơn vị bộ binh lê thê dưới nắng hegf , mà suốt cuộc hành trình bộ không có một trận mưa nào ;; một mùa nắng của mièn trung gay gắt cung là những thử thách đầu tiên đời người lính đối với chúng tôi , những than niên 18 đôi mươi chưa bao giờ xa bố mẹ , gia đình , có người còn mới chưa kịp tốt nghiệp phổ thông cấp III bấy giờ . Ký ức năm xưa , đến giờ vẫn còn như đâu đó một thời trai trẻ và nay hiểu rằng vì sao những người lính thuỷ trẻ ngày ấy đã đi hết cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và trở thành những đô đốc ,những tiến sỹ và những anh hùng lực lươ]ngj vũ trng và cả những người ra đi không bao giờ trở về thành phố hôm nay . Những bước chân hành quân đầu tiên và cái nắng chang chang như đổ lửa mà hàng ngũ suốt 12 ngày nẫn tề chỉnh không ai đổ ngã trong những ngày đầu tiên của người lính đã hun đúc nên những yá chí và tư cách của những sỹ quan Hải quân V.N trong cách mạng giải phóng dân tộc mà bấy giờ chúng tôi không biết đến bao giờ mới được giải ngũ .
Rồi , cũng lại thàgs Tư , sau một năm huấn luyện tôi lại khoác ba lô trong sắc phục Hải quân mù hè trở ra Hải Phòng về bên kia Bến bính --Thuỷ Nguyên , một cảng bé nhỏ đối diện nhà máy xi-măng Hải phòng ---Đoàn tàu không số chuẩn bị thành lập chính thức và tôi cùng bạn bè chờ con tàu để lại rong ruổi trên sóng biển đông --đi B-- ( đoàn vận tải vũ khí vào chiến trường Nam bộ ) Những ngày chờ tàu , chúng tôi ở trên bờ cùng ban chỉ huy nhưng vẫn được ăn uống theo chế độ Hải táo ( chế độ Lính dưới tàu trong những ngày ở bờ ) và còn được cung cấp đầy đủ hơn bất kỳ người lính nào khác . Trong những ngày đợi tàu , tôi được ban chỉ huy giao cho một chiếc xuồng gỗ gắn máy đẩy đề đưa cấc Thủ tưởng qua Sông Cấm sang Bộ Tư lệnh mỗi khi cần thiết . Thời gian đợi tàu cũng chẳng phải ngắn ngày và mãi đến tháng 9 năm ấy mới chính thức thành lập lữ đoàn 125 , bởi vậy tôi lại đơp[cj cử về Hà Nội để học Sáng tác múa Tập thể và học thuộc để về phổ biến rộng bài hát chính thức của mặt trận ' giải phóng Miền Nam " của Huỳnh Minh Siệng.. hưng rồi đất Bắc cần thuỷ thủ cơ điện trong vận tải biển phía Bắc và tôi đã từng là người thợ và khả năng vận hành máy tàu tốt hơn đồng đội không phải là công nhân nhập ngũ nên tôi được điều động rời đoàn không số thay thế lính cũ dưới tàu Tankit và đi vận tải biển phía bắc . Còn lại đồng đội vài ba người cũng ra hải phòng tiếp tục đợi tàu và vài ba người chuyển sang tàu tuần tiễu n90 tấn và một số sang Thuỷ đội ( công an vũ trang trên biển ) . Về sau một số Báo vụ viên và thuỷ thủ hàng hải đước điều động từ cănb cứ I và căn cứ II về để nhận tàu đi vận tải vũ khí vào Nam
Tháng Tư của năm nay đã trải hơn 50 năm --hơn một nửa thế kye 20 , chúng tôi kẻ còn người hy sinh , người về già , người bệnh tật chắc không khỏi bùi ngùi khi nhớ về cái nắng chang trang mirnf trung năm xưa và những ngày kênh đênh trên biển đoong cungd con tàu không số , con tàu phá bom và kể cả những xà lan , thuyền buồm tiếp vận đảo xa phía bắc mà khi gặp địch sẵn sàng sống mái không quản hy sinh .
Rồi hơn 30 năm trôi qua , ngày 30 tháng tư , lại là tháng tư mà bây giờ trở thành ngày lịch sử , ngày chiến thắng của quân đội nhân dan V.N trong công cuộc thu giang sơn về một mối . Thủ đo trong những ngày này vô cùng hồi hộp theo dõi từng trận đánh , chúng tôi vẽ từng ngọn cờ hai sắc đoe xanh lên bản đồ những nơi được giải phóng mà bắt đầu băng trận chiến thắng chiếm lính và giải phóng ban-mê-thuột -- Một că3n cứ quân sự miền trung có tầm chiến lước của quân đội Mỹ và quân cộng hoà nam Việt Nam . Những ngày hồi hộp chò mong kết quả trận đán tiến dần đến Sài Gòn ấy , tôi đang là sỹ quan ở cơ quan Cục Tại Hà nội và thường có tin chiến sự qua cục tác chiến nên biết rằng , một sai lầm chiến lước có tính quyết định khi Ban mê thất thủ của Sài gòn chính là bọn họ tháo chạy và bỏ luôn Tây Nguyên mà lại rút chạy ra biển chờ cứu viện tháo lui của Mỹ là một sai lầm hết sức lớn do sự dệu dã , không còn hy vọng giữ vững thế cuộc Đồng thời do quân đội Chính quyền Sài gòn là một quân đội đánh thuê nên gây ra những cảnh sỹ quan , binh lính ,ghia binh bồng bế nhau chạy tháo thân gây nên thảm cảnh của tàn quân và mở đơờng cho một cuộc tiến công mới được mở ra ngay sau khi Tây nguyên hoàn toàn dưới sự kiểm soát của quân đội nhân dân V. N mà mãi sau này , khi chiến thắn chúng ta mới gọi là "Chiến dịch Hồ Chí Minh " .
rong ngày đầu giải phóng Tây Nguyên , tôi đã có quyết định gọi là Đi B , nhưng khi đó đang vướng bận vào việc xây dựng khu nhà phụ ngoài trung tâm của cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã được xây dựng khi hưa xảy ra chiến cuộc có tính quyết định lịch sử 1975 nên cục tỷ]ơngr không ký quyết định điều động đi B -- bấy giờ chính là đi thu hồi Vật tư , chiến lợi phẩm ngay sau khi ta chiếm lĩnh tây Nguyên cùng Phó Cục trưởng . .
Những ngày tháng tư 1975 cũng là những ngày nắng lửa , và cả thành phố hồi hộp đón chờ ngày chiến thắng quân đội NDVN tiến vào sài gòn , bởi đó là ngày chiến tranh sẽ lùi sâu vào dĩ vãng và cuộc sống thanh bình bền vững của một tổ quốc thống nhất mà bấy lâu nay toàn dân hằng mong mỏi . Trong ngày 30 thán 4 1975 , chúng tôi nhận được tin chiến thắng vào đầu giờ chiều làm việc và thế là vài ngùi chúng tôi hết giờ làm việc mặc thường phục đạp xe đaqpj quanh khắp các phố phường quanh hồ hoàn kiếm -- Một ngày không quên .
Năm nay đã hơn 40 năm trôi qua , nhìn đất nước ,lớp người sau , lớp người đương thời bom đạn và những cựu chiến binh kỷ niệm , nghỉ lễ chiến thắng , chúng tôi không khỏi bùi ngùi nhớ về đồng đội năm xưa mà lòng buồn bã nhìn về tương lai đất nước cũng như tương lai dân tộc Việt Nam chúng ta với biết bao suy nghĩ về Quân đội Và Hải Quân nhân dân Việt Nam hôm nay ../.
Nhận xét
Đăng nhận xét