NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN _ Đ H K T L Q Đ
Lời nói đầu và lời tác giả .
Mỗi
người chúng ta sống trên mảnh đất việt nam mà mảnh đất này__ một dòng Hồng Hà
xuyên dọc nửa phần đất nước với một dòng Mê-Kồng đổ ra Biển Đông bằng chín dòng
sông xanh trong mà người xưa đã đưa lại cho tên gọi hôm nay –Cửu Long Giang
. Mỗi người và từng người sống qua một
thời nghèo nàn , cực khổ và oanh liệt qua mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc
Việt Nam , một dân tộc với Văn minh Đồng bằng Sông Hồng ___ Cái nôi của loài
người còn nguyên vẹn rừng nguyên sinh
Cúc Phương với Động Người xưa trên lưng chừng vách núi Cúc Phương ; Đi qua trọn
vẹn cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc V.N và những năm xây dựng tổ
quốc ta trong hòa bình đều là những
thiên tiểu thuyết cuộc đời con người mà
những tác phẩm văn học chỉ thể hiện được
từng nét, từng nét , mà rất khó
có thể có một tác phẩm văn học nào lớn
đủ cho nó .
Bởi vậy
những đoạn hồi ký của người ta tưởng như phi văn học , và của cá nhân ai đó ngỡ
là không mấy giá trị , chỉ là của cá thể ai đó thôi , không , đó là những viên
gạch đã được nung chin từ nắm đất sông Hồng để xây lên thành những tòa biệt thự
văn học , những dãy nhà bảo tàng lịch sử dân tộc qua từng thời kỳ và giai đoạn
lịch sử Việt Nam .
Năm 2012 ,
cuối năm , sau một vòng tròn trên không dưới đất NamĐinh –Hà Nội –Sài Gòn –Hải
Phòng –Hà nội –Nam Định liên lạc của tôi với
đồng đội –học viên Trường Đại học kỹ thuật quân sự việt Nam Khóa thứ
nhất –C213 được nối lại sau nhiều năm
tôi không biết và cũng không ai biết tôi trôi nổi về đâu sau khi rời Quân đội
từ hàng ngũ Sỹ Quan kỹ thuật Thủ đô về nơi chôn rau cát rốn của mình .
Viết hồi ký này
của tôi có lẽ bắt nguồn từ ý tưởng của
Nghiêm Sỹ Chúng . .
Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu Tướng – Phó Tiến sỹ khoa học
kỹ thuật = Tiến sỹ
Gửi thư cho
đồng đội vả tôi có được từ Email của Tiến sỹ Đại Tá Lê Kinh Tuyến Viện Nghiên
cứu kỹ thuật quân sự V.,N cũng như vậy
từ Tiến Sỹ --Đại Tá Nguyễn Nước Trường Đại học Kỹ thuật quân sự Trần Đại Nghĩa
( Trường Kỹ thuật Quân sự Vin –Hem –Pích )
.
Xin chép ra
đây toàn văn thư của Nghiêm Sỹ Chúng .
Và , có thể nói đó là điều cảm xúc và viết những trang
hồi ký của tôi từ khi về trường Đại học cho tới khi tôi về nghỉ hưu không ai
biết đến .
Và Tôi nghĩ
rằng : bản anh hùng ca của dân tộc Việt Nam ta cũng nằm trong từng trang hồi ký
, hồi ức của mỗi người đi qua trọn vẹn hay một phần của chiến tranh vệ quốc và
giải phóng dân tộc Việt Nam , dù ở đâu , trên chiến trường hay nơi hậu phương ,
hoặc giữa lòng thành phố ,hoặc trên Thủ đô ngàn năm văn hiến .
Thư gửi các ban cựu học viên C213 ĐHKTQS
Các bạn thân
mến,
Trong những năm gần đây HVKTQS đã phát
động những đợt viết hồi ký về nhà trường và đã xuất bản 2 ấn phẩm là Không gian tình thầy (10-2006) và Mái trường trong ký ức (10-2011) gồm
khoảng 150 bài viết của các thày giáo và học viên của HV trong suốt 45 năm qua.
Nhưng đáng tiếc vì lý do thiếu thông tin nên các học viên khóa 1 chúng ta tham
gia rất ít.
Những
chặng đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là những
kỷ niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy giành
một phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn chúng
ta đã đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của các bạn
sẽ tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển chọn những bài hay để đóng góp cho ấn
phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi
chúng ta lâu nữa!
Chúng
tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường
và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là
thời kỳ 1971 – 1975.
-
Bài viết bao gồm
các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.
-
Đề tài tự do, tất
cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt
nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác
của chúng ta khi ấy.
-
Mỗi người nộp cho
một ảnh chân dung cỡ 3x4 hoặc 4x6 kèm theo thông tin cá nhân: ngày sinh, địa
chỉ, điện thoại, vợ con… để in vào tập sách (của tất cả mọi người trong C213).
Địa chỉ gửi bài : Nghiêm sỹ Chúng, nhà số 16, ngõ
71/14 phố Hoàng Văn Thái, Thanh Xuân, Hà Nội, ĐT: 069562073 – 0973128873 email:
ttbinh2@yahoo.com
Thời gian gửi bài đến hết tháng 12/2013.
Rất mong nhận được sư hưởng ứng của tất cả anh em
chúng ta, Cảm ơn!
TM BLL học viên khóa 1
.Nghiêm Sỹ Chúng
NĂM THÁNG
KHÔNG QUÊN
Thay lời đầu và lời tác giả
Cho toàn tập hồi ký
“Những chặng
đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là những kỷ
niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy giành một
phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn chúng ta đã
đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của các bạn sẽ
tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển chọn những bài hay để đóng góp cho ấn
phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi
chúng ta lâu nữa!
Chúng
tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường
và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là
thời kỳ 1971 – 1975. Bài viết bao gồm
các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.
Đề tài tự do, tất cả những gì là kỷ niệm của bản thân,
có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt nhưng lại là những minh họa sống
động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy. …..(NGHIÊM
SỸ CHÚNG ) “
-
Thời gian trôi đi mà ta không để ý thì chỉ như một
chớp mắt của thế kỷ mà thôi . Hà Nội , Sài Gòn tên các đường phố tôi đi và đây
đó tên gọi của chúng đối với ai đó có vẻ như xa xôi như thời Trần Hưng Đạo ,
Quang Trung , Các tên trường học ai đó nghe cũng xa xôi như Lê Quý Đôn , Lương Thế Vinh và V ân V ân .. Nhưng trong
tôi những tên đường phố , tên trường thật gần sát ngay bên mình , và tôi lại
nhớ đến những ngày chúng tôi ra trường
và đi trên khắp miền của Tổ quốc thân yêu .
Trong những
ngày hè của năm 1971 gần 300 Kỹ sư quân sự của Trường Đại học kỹ thuật quân sự trong
buổi Lễ Tốt nghiệp . chúng tôi đón Tướng Vương Thừa Vũ v à Trần Đại Nghĩa về
trường và Đại tá Chính uỷ kiêm Hiệu
trưởng Đặng Quốc Bảo cùng nhiều Đại tá khác trong suốt buổi lễ với bầu không
khí hân hoan bởi khoá kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam , buổi lễ thật trịnh trọng tuy không có mũ áo cử nhân như
hôm nay , chỉ những bộ quân phục với quân hàm học viên sỹ quan quân đội , bởi
chúng tôi chưa có quyết định quân hàm cho từng người . Thế mà , bây giờ tên các vị tướng ấy đã là
tên đường phố , tên trường học , và có học viên đã là Trưởng khoa của trường
mang tên người làm lễ tốt nghiệp cho
mình và tôi cảm thấy như thời gian ngừng
trôi , bởi chẳng mấy khi chúng tôi nghĩ đến tuổi tác của mình mà chỉ thấy mới
như sau một đợt chiến dịch mà thôi.
Sau lễ tốt nghiệp, chúng tôi trở về doanh
trại và tiếp tục tập vượt núi Tam Đảo dựng đứng để chuẩn bị cho Những ngày Vượt
Trường Sơn khi có lệnh vào chiến trường Miền Nam
. Lại là những ngày gian khổ mới khi mà đường vượt của chúng tôi tuy
ngắn hơ n đường vượt của Sư đoàn 312 nhưng dốc núi dựng đứng và đường hành quân
hiểm trở __-một con đường vạch theo bản đồ tác chiến đột nhập hẳn Tam Đảo bất
chấp núi đứng dựng thách đố người lính trẻ sung sức , cùng ba lô và hành trang
tới 30 kg . Gian khổ bấy giờ của chúng tôi cũng vợi đi và được khích lệ bởi các
đoàn tàu hoả chở Xe tăng chiều chiều từ Ga Vĩnh Yên chạy trên đường sắt mà trên
khu nhà bốn tầng xây dở dang , hoặc đâu đó trước cổng trường chúng tôi thấy mỗi
chiều khi ‘hoàng hôn gần buông hoặc khi trời chiều miền trung du đầy gió .
Sau nhận quyết
đinh quân hàm thuộc hàng ngũ Sỹ Quan Quân đội , chúng tôi nhận ngay địa điểm
nhận công tác ,rồi lần lượt rời khỏi mái trường Đại học đầy kỷ niệm này ..
Tôi được nhận
Quân hàm Thiếu uý cùng giới thiệu chung về Trạm 66 Bộ Quốc phòng tại Hà Nội .
Lần lượt
chúng tôi đi nhận nhiệm vụ về những đơn vị khác nhau , từ đó bắt đầu những
chặng đường mới trên vai trách nhiệm của một kỹ sư quân sự cùng với sự trưởng
thành vượt bậc qua năm năm học tập và
rèn luyện trong trường với lòng yêu thương và tin tưởng của Bộ Quốc phòng . Về
trạm 66 nhận nhiêm vụ ,trong đại đội của tôi , tôi thấy chỉ có mình tôi và đợi
cho đến cuối cùng mới được đồng chí phụ
trách phân công cán bộ của Tổng Cục kỹ thuật phân công cho tôi và anh Nguyễn Văn
Trình đại đội chuyên tu khóa 1 về Cục Vật tư ở Bưởi .
Hai anh em chúng tôi một Trung úy , một Thiếu úy Kỹ sư
quân sự được thông báo về Cơ quan Cục ; Trạm 66, đi bộ đoạn ngắn chúng tôi đeo
ba lô lên Tàu Điện bên vườn hoa về Bưởi .
Cục Vật tư bấy
giờ sát ngay bên bờ Hồ Tây , đối diện ở bờ bên kia là khách sạn Thắng Lợi nhô
ra soi mình xuống mặt hồ xanh trong .
Anh Trình được
quyết định Trạm Trưởng xuống Trạm Sửa
chữa của Cục bên Gia Lâm , còn tôi nhận
quyết định Trợ lý Xây dựng Nhà máy của Phòng Tổ chức –Kế hoạch Cơ quan Cục với bản đánh máy và chữ ký của
Thượng Tá –Cục trưởng Trần Ngọc Giao .
Cũng trong khi
đợi ở gian nhà lá chờ gọi là phòng khách
tôi ngẫu nhiên gặp lại Nhơn người Quảng Bình cùng tiểu đoàn huấn luyện Hải Quân
ở Căn cứ II –năm xưa - Trung úy , cũng đang chờ vào Cục để nhận quyết đinh ,
theo Nhơn nói là để đi B , và bấy giớ
nói là đang làmChính trị viên của xưởng Sản xuất Sơn và Khí Ô-Xy của Cục dưới
Kiêu Kỵ --Phú Thụy Hưng Yên . Xưởng này về sau tôi được biết cũng từ Quân chủng
Hải Quân chuyển giao sang để hợp thành
nhà máy mà tôi làm trợ lý xây dựng khi đó chỉ có xưởng giao sang . Và Nhơn và
tôi chỉ nhận nhau sau gần 10 năm từ khi rời tiểu đoàn huấn luyên để xuống tàu và
đi các đơn vị bờ biển ; không kịp
chuyện gì thì tôi và Anh Trình vào Cuc còn mình Nhơn ngồi chờ ; rồi tôi đoán rằng
: Nhơn đã đi học Sỹ quan năm 1964 trường sỹ quan Hải quân –trường 45 Quảng Yên
– Quảng Ninh mà năm đó tôi đã xin ở lại Khu Tuần phòng Hải Phòng không đi học ,
sau khi rời đoàn không số xuống tàu Tan-kít
rồi lên trạm sửa chữa Hải Phòng .
.
TRONG LÒNG HA NỘI
NHỚ NHỮNG
NGÀY BÊN BỜ HỒ TÂY
Sau những năm thiết kế và chỉ huy thi công nhà máy T
606 Cục Vật Tư bấy giờ , năm 1974 tôi nhận quyết đinh về lại Cục Phòng Tổ chức
kế hoạch sau khi hoàn thành lắp đặt xong toàn bộ hệ thồng cung cấp và phân phối
mạng Điện Hạ Áp cho Nhà máy để thiết kế tiếp theo hệ thống chiếu sang cho dãy
nhà 2 tầng làm khu nhà Hành chính T-606 . Vừa thiết kế xong thì Cục Giao cho
tôi và anh Hồ Ngọc An Trợ lý –Trung úy –Kỹ sư xây dựng , thiết kế và hướng dẫn
thi công một khu làm việc , nghỉ ,và họp phụ của Tồng bí Thư Lê Duần trên khu
đất kề bên cơ quan Tôi bấy giờ , và được biết để T.B.T khi cần thiết yên tĩnh ,
xa Thủ phủ khi làm việc , lúc nghỉ ngơi hay các cuộc họp .
Tôi nhận
trách nhiệm thiết kế và hướng dẫn thi công toàn bộ hệ thống điện , nước trong
nhà , các phòng : phòng ngủ ,phòng khách , phòng họp cũng như khu vực nhà của
các chuyên viên phục vụ ; chiếu sáng ngoài trời cho toàn khu nhà .
Thiết kế ánh
sáng cũng như cấp nước cùng thiết bị Điện nội thất bấy giờ chúng tôi được phê
duyệt trực tiếp với Cục Trưởng trên Bản vẽ thiết kế vật liệu trong ( Bản
chính – trên Giấy Can) .
Trong những
ngày ngồiThiết kế bên Hồ Tây , chúng tôi được gặp Tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm
trước tiên khi đến Cục vì bộ phận chúng tôi là bộ phận kỹ thuật gồm Các kỹ sư
và vài cô Thợ Can .
Tôi còn nhớ :
hôm đó , đang mải vẽ tạo dáng một đèn góc nhà ánh sáng phản chiếu , không để ý
đến trước phòng cục Trưởng có Đại Tướng đến , khi có Cục trưởng vào Đại tường cùng
vài cán bộ đi theo đến hiên trước phòng , tôi mới bỏ cây chì nhìn ra thì Đại
Tướng đã đứng ngay cạnh bàn làm việc của tôi và hỏi :
__ Đồng chí học gì ?
Tôi lung túng
không biết trả lời thế nào , bởi vì khi đó tôi đã vẽ hình dáng đèn góc phản xạ
riêng cho phòng ngủ của Khu B ( Khu B để chỉ khu nhà của Tổng Bí Thư đang được
xây ) , Nó có hình dáng kiến trúc chẳng quan hệ gì đến nhiệm vụ một việc kỹ
thuật của cục Vật Tư ; Tôi chỉ biết trả lời
;
-- Tôi học ở
Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự .
Đại Tướng ngạc nhiên hỏi :
--Kỹ thuật Quân
sự sao lại làm cái này ?
Tôi chưa biết
trả lời ra sao thì đứng ngay sau
ĐaiTướng là Cục Trưởng
Ông rất nhanh
trí và trả lời ngay :
--Việc này
cũng thuộc về Điện .
Đại tướng rời
khỏi bàn tôi và bắt đầu thăm hỏi từng người từ chuyên môn cho đến nơi tốt
nghiệp rất thân tình và quan tâm .
Tôi gặp Đại
Tướng lần đầu đã để lại trong tôi lòng kính phục và yêu mến bởi sự gần gũi ,
tác phong gọi là rất quần chúng đượm một màu thân thiết tình đồng chí không
phân biệt ông là chỉ huy và ở cương vị thống lĩnh quân đội nhân dân việt nam .
. những năm ấy Đại Tướng không khỏe ,. người gầy và thường hay xuống cục tôi để
bơi thuyền và nghỉ ngơi bên bờ Hồ Tây này yên tĩnh và mát …
Công việc xây
khu nhà đang tiến hành lắp hệ thống điện thì chiến dịch đánh chiếm tây nguyên
diễn ra ác liệt , nhưng chúng tôi ở ngoài Thành và là bộ phận Kỹ thuật nên
không biết tin gì từ Cục Tác chiến .
Một chiều ,tôi
từ khu B về phòng gửi cặp bảo mật để thể thao chiều thì một cô văn thư thân với
tôi bảo rằng :
__Anh có quyết
định đi B đấy .
Tôi nói :
__Không biết ,
mình vừa bên Khu B về !
Hôm sau ,
Tôi thấy quyết định anh bạn – Trung úy Lê Đình Tấn cũng cấp với tôi – Kỹ sư cơ khí chế tạo Bách
khoa Hà Nôi khóa 7 . nhận quyết định cùng Cục Phó Ngô Kỷ đi B .
Đó là khi vừa
giải phóng xong Ban Mê Thuột và Cục Phó và một kỹ sư giỏi , có năng lực và biết
ngoaị ngữ đi để thu hồi toàn bộ vật tư và chiến lợi phẩm sau khi quân ngụy tháo
chạy .
Khi từ Ban Mê
về mang về Cục trước khi chuyển tổng cục , tôi mới mục sở thị bộ Grande La
Rouss của Tiếng Pháp mà trước đây chỉ có trong thư viện cuốn Petite La Rouss .
Nó gồm 24 cuốn khổ Letter , một cuốn cho một chữ cái pháp ngữ .
Khi
đó tôi có quyết định đi B là văn bản do
văn thư đánh máy để xin chữ ký Cục trưởng
nói cho tôi biết ; nhưng bấy giờ
phải dừng công việc khu B , nếu tôi
đi Ban –Mê- Thuột như điều động của phòng cán bộ -chính trị Cục .
Kể từ khi
giải phóng Ban Mê Thuột , cuộc tiến công giải phóng miền nam và đánh vào Sài Gòn
dần dần bắt đầu vào chiến dịch mới mà mãi sau này mới gọi là Chiến dịch Hồ Chí
Minh , chúng tôi vẫn tiếp tục phải hoàn thành công trình xây dựng của bộ giao
cho Cục chúng tôi . Trong thời gian gọi
là Chiến Dịch Hồ Chí Minh và khi hoàn thành , giải phóng Sài gòn ,thì chúng tôi cũng đã hoàn
thành xong khu B của Bộ Quốc phòng giao cho.
Trong những
ngày đầu hoàn thành sau giải phóng Sài gòn , tôi cũng đã được gặp Tổng bí thư
Lê Duẩn vừa từ Sài gòn ra đến xem , kiểm tra Khu B , có khi bằng Xuồng máy từ
phía bờ Khách sạn Thắng Lợi sang , có khi đi Ôtô vừa lấy từ phía nam ra .
_Trong một
ngày nghỉ , Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khi đi nghỉ bằng Pê-Rit-Xoa từ phía khách
sạn ghé lên Khu B Phía ngoài Khu B cạnh
đường là một trường tiểu học . khi biết Thủ Tướng đến thăm khu B, Các cháu học
sinh tiểu học quanh đấy gọi nhau đến xúm quanh Thủ Tưứng và Thủ tướng than mật
chuyên trò thăm hỏi .KHi đó Thủ Tướng gầy gò lắm
Những lần đi
bên Tổng Bí Thư và Thủ Tướng trong Khu B đã cho tôi một cảm nhận tốt đẹp về các
nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam chúng ta ; đó là sự gần gũi nhân dân và
được nhân dân tin tưởng , yêu mến , nhất là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Từ người
già , trẻ nhỏ ai ai cũng kính trọng và yêu mến .
Đối với Đại
Tướng đã để lại trong tôi một tác phong giản dị , sâu sát của một chỉ huy , một
Tướng lĩnh gần gũi với mọi cấp sỹ quan trong quân đội nhân Dân việt Nam .
Một Bản lĩnh Tướng Soái Việt Nam .
Cho đến bây giờ tôi mới hình dung ra những nẻo đường
các kỹ sư quân sự khóa 1 , sau khi ra trường tỏa đi khắp đơn vị quân đội phục
vụ cho cuộc kháng chiến giành đọc lập tự do trong giai đoạn vũ khí và phương
tiện chiến tranh là quan trọng nhất ; chúng tôi người đi chiến trường , người ở
lai hậu phương trong các cơ quan khoa học và kỹ thuật để xây dựng một hậu thuẫn
kỹ thuật quân sự trong cuộc chiến .
Trong những
ngày vừa về Cục , tôi gặp Lê Kinh Tuyến ở Viện Nghiên cứu Kỹ thuật quân sự khi
tôi sang tham dự , nghe một hội thảo và báo cáo Đề tài Nghiên cứu của Viện . Có
thể nghĩ rằng các kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam không những có mặt trên
các chiến trường , các quân đoàn binh trạm và cả trên thủ đô đều đóng góp hết sức mình để đi đến thắng lợi
30 tháng 4 1975 , xứng đáng là đầu đàn của Học viện hôm nay .
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
Vừa tốt nghiệp ra trường , tôi được điều động làm trợ
lý xây dựng nhà máy và lao vào công việc bổ túc tri thức loại hình thiết kế mà
trong trường chúng tôi chỉ được học đúng theo hệ kỹ thuật quốc gia bấy giờ .
cho nên , khi Thiết kế các phân xưởng sửa chữa cũng như thiết kế các hệ thống
Dân sự , tôi phải “tự” đào tạo ;học và nghiên cứu phù hợp với các công trình
dân sự mang tính quốc phòng chứ không phải các trận địa T_Tên lửa hay Pháo 100 , hay một trận địa RA-
Đa nào đó . Trong đó cần tự học và nghiên cứu thiết kế nhà máy , phân xưởng Sản
xuất và sửa chữa Công nghiệp ; cũng như vậy với Hệ thống chiếu sáng và đặc biệt
là Hệ thống chiếu sáng bằng đèn huỳnh quang mà trong trường nó nằm ngoài chương
trình đào tạo ; do đó tôi phải học thêm và nghiên cứu qua giáo trình mới , tìm
trong Thư viện Khoa học Kỹ Thuật TW__ Lý Thường Kiệt bấy giờ ; Khó khăn không phải
gặp kẻ thù như ngoài chiến trường , tiền phương mà phải tiếp cận với cái mình
chưa được học , cho nên phải Tự học trên giáo trình mới và trên thực tế các xí
nghiệp bấy giờ . còn chiếu sáng bấy giờ , dùng đèn huỳnh quan như là một sự
chiếu sáng sa xỉ đối với nhân dân ., vì là khu nhà của Tổng bí thư nên tôi phải
đọc và học hết một giáo trình chiếu sáng điện bằng đèn huỳnh quanh bằng Tiếng
Nga cà vừa học vừa Thiết kế ; bấy giờ nhiều người kêu ca là tôi dùng nhiều đèn
quá , rồi sau ngày giải phóng Sài gòn người đi công tác trong đó ra lại bảo ánh
sáng khu B ăn thua gì ! …; lại trong chiến tranh chống bắn phá của Mỹ nên Dụng
cụ chiếu sáng thích hợp hầu như không có , kể cả trong Tất cả các kho Vật Tư
Công nghiiệp của Cục tôi , ví như chụp đèn chiếu sáng ngoài trời , blog , giá đèn huỳnh quang đều không kiếm
đâu ra . Để tìm một chụp đèn cổng vào khu B thôi, tôi tới Các kho và vào cả xí
nghiệp Thủy Tinh Dân Chủ , xí nghiệp
Thủy Tinh Hà nội bấy giờ , đi cùng cán bộ chạy Vật tư của Cục , vẫn không có ;
cuối cùng đành lấy một chụp đèn trần trên tàu biển thay cho Chụp đèn tương
thích cho Cổng ra vào khu vực .
Những ngày
nóng nực dưới trời Thủ đô , đúng là nắng lửa , đúng vào dịp chiến tranh phá
hoại của miền Bắc của Mỹ leo đến mức ác liệt và chúng kiên quyết nhất , trường
Đại Học Bách khoa phải tạm dừng học tập
để sang phục vụ quân đội . Đó cũng là thuận lời cho tôi khi vừa ra trường và
cùng phối hợp với các giảng viên Đại học Bách khoa cùng thiết kế và bảo vệ
thiết kế , cũng như sự kiểm soát thiết kế của tôi bấy giờ do một vài Phó tiến
sỹ phối hợp .
Công việc
thiết kế nhiều , bản vẽ lắm , nơi làm
việc không thể tập trung và khó có thể xa Hà Nội đến nơi sơ tán của Bách khoa ,
, nên tôi làm việc ở cơ quan bên bờ hồ tây phia Bưởi thường phải đi theo dõi và
phối hợp trong trường Bách khoa cuối đường tàu điện , nhưng chiến tranh không
thể ngồi tầu điện mà phải cuốc bộ đi làm việc bởi mới về cơ quan chưa có xe đạp
phân phối để công tác . Đó cũng là những tháng ngày cũng tốn nhiều sức lực
trong khi đó các đồng đội tôi , bây giờ tôi mới biết , rất đông đang lăn lộn
trên chiến trường Miền nam và các quân đoàn cơ động , còn tôi chỉ mệt nhoài
giữa Thủ đô mà thôi . .. Và tronh sự mệt nhọc do ddi bộ dọc Hà Nội mà tôi “
nghiệm trên người mình “ ché nước chè 4 hào rưởi đặc quánh, từ đó … ..băt đầu
uống trà và … nghiện trà luôn !
Ở Hà Nội
cho đến khi tôi chuyển ngành ra ngoài , những ngày Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống Thủ đô ta cũng
là những ngày không thể nào quên của tôi trên đất Thăng Long Hà Nội .,cùng với những năm tháng sống trong
lòng Hà Nội .
KHÔNG ĐỀ
Những người con được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội rổi rời
Hà Nội đi chiến đấu ,cũng như những người con của Hà Nội từ miền đồng bằng Hồng
Hà lân cận về Thăng Long trong sắc phục quân đội Nhân dân V.N qua trọn vẹn cuộc
chién tranh vệ quốc và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam , trong thế kỷ 21 này người Nam kẻ Bắc , người trên Thủ
đô , hết thảy đều tự hào về Thủ đô thân yêu của chúng ta , biết bao vui buồn ,
kỷ niệm và tình yêu .
Tôi nhớ lại
Nguyễn Huy Tưởng với những Tiểu thuyết “ Sống mãi với Thủ Đô “ và Trong lòng Hà
nội “ ___ tiểu thuyết như một anh hùng ca của thế hệ trẻ cha anh chúng ta ,
những thanh niên thủ đô bất khuất , và như vậy nghĩ về Những người ra đi chiến
đấu từ Thủ đô và được về Thủ đô trong Bộ đội Việt Nam đã nối gót được người xưa
nhưng trên khắp mọi chiến trường dọc theo mảnh đất việt Nam dài và hẹp với dải
Trường Sơn trùng điệp hàng ngàn cây số từng đoạn uồn mình quanh sát biển Việt
Nam cũng làm nên nhiều huyền thoại trên rừng dưới biển .
Tôi về Thủ Đô từ khi là một Binh nhất Hải quân
và rồi sau mấy năm là Trung sỹ Hải quân với những lớp học ngắn ngày cả về Văn
hóa ,cả về thể thao, cả về kỹ thuật vài tháng , cả trong hòa bình , cả trong
chiến tranh .Hà nội gần 10 năm trong nhiệm vụ Sỹ quan kỹ sư kỹ thuật quân sự
thì những kỷ niệm ký ức về công việc , bạn bè không phai cho dù năm tháng đã
thay màu sắc : chiến tranh , hòa bình . kinh tế , quân sự trong một thời đại
nào cũng thế mà thôi .
Có lẽ ,
tình bạn , tình đồng chí , tình thày trò của chúng tôi trong Khóa đầu của Học viện Kỹ thuật Quân sự hôm nay có
đặc thù riêng không khóa nào , trường nào , thời nào có ; bởi đó là tình đồng
chí từ khắp miền Bắc trong 3 quân chủng khoác ba lô rời vị trí chiến đấu tập luyện
về trường trong niềm tin của Bộ quốc phòng
và đồng đội cùng nhau cùng một tuổi thanh xuân đầy ước mơ hoài bão cống
hiến cho đất nước đang hừng hực khí thế cách mạng của nửa sau thế kỷ thứ 20 , tình cảm đồng đội , bạn bè bắt nguồn từ
những người lính không có gì ngoài tình
yêu và ước vọng , cho nên vô tư đến ngây thơ trước cuộc sống đời thường .
Những năm cuối
của khóa học tốp cùng tiểu đội tôi ở Vĩnh yên
có “ Ngô Ngọc Vĩnh , Nguyễn Ánh Sáng và Nguyễn Văn Đáo ; tình đồng đội
trong những năm đèn sách còn theo tôi trong những năm sống trong lòng Hà Nội.
Chuyện xem ra
chẳng có gì đáng kể , nhưng tôi nghĩ đó là những mẩu đới mất mát và thiệt thòi
trong một đất nước như nước ta và với người lính , người sỹ quan quân đội như
một hy sinh thầm lặng mà có chiến công cũng dựng lên trên những đau khổ nơi hậu
phương trên tay người vợ hiền và bé thơ ..
Khi ra trường
và trước khi đi B , Vĩnh cưới Dương Vân Kim con gái thứ trưởng Dương Bạch Liên
tôi không dự và cũng không hay , chỉ biết họ yêu nhau khi tôi và Vĩnh cùng đóng
quân ở Văn Tiến , trong một cái buồng đầu trái chỉ vừa đủ cho 2 phản cá nhân
tôi và Vĩnh để cùng nhau đèn sách , có khi cùng về Hà nội và chúng tôi qua nhà
Vân Kim ở 67 Nguyễn Thái Học .
Năm 1971 hoặc đầu 1972 gì đó . Kim sinh con trai đầu lòng
khi Vĩnh đang trong chiến trường Nam bộ , tôi không biết ở đâu . Một
chủ nhật tôi đến thăm Kim và bé con Vĩnh thì thật mừng vì bé giống Vĩnh hơn một
tượng do một nghệ sỹ ưu tú tạc cho .
Tưởng như sẽ
là tốt đẹp và hạnh phúc với một cháu ngoại của một Thứ trưởng thứ nhất ; nhưng
thực tế phũ phàng đã đảo ngược niềm hạnh phúc kia .
Chừng hơn 4
tháng sau cũng một ngày chủ nhật tôi ghé qua 67 Nguyễn Thái Học để thăm Bé con
Vĩnh ; nhưng thật không ngờ , chỉ vì thiếu sữa mẹ , phải dung sữa bò cho ăn
ngoài , nhưng sự vô trách nhiệm của bảo mẫu nhà trẻ , vì khi đó Kim phải đi làm
trong xí nghiệp Ô-Tô 1 . 5 Hà Nội . Bé bị đi ỉa mất nước và lìa khỏi cõi trần
trong khi người thân sinh xa biền biệt nơi quân ngũ .
Nhưng số
phận con người còn nghiệt ngã hơn.
Hà nội .
Một sáng đầu
tuần trước khi đến giờ làm việc , chúng tôi ngồi chuyện phiếm ,uống trà bốn hào
rưỡi – chè nước văn phòng thuở ấy ; nói chuyện về bạn bè tôi , Đào Kim Chi Kỹ
sư ô tô bách khoa khóa 7 , nhân vì nhắc đến hôm tôi đến thăm nhà Vĩnh - Kim khi
đã chuyển về Lê Phụng Hiểu – Hà Nội , Chi nói : Cháu nội Ngộ chết rồi còn đâu !
, Chi biết , vì Chi không ở trong doanh trại cơ quan mà vì được ở tại gia với
bố là Vụ Trưởng ở bộ Tài chính cùng bộ mà bố Vĩnh là VụTrưởng . Nghe tin ấy tôi bán tín bán nghi , ngay sau
đó , chủ nhật nghỉ , tôi đến Lê Phụng Hiểu và Kim nói rằng cháu cũng bị mất
nước và bỏ đi . Thật bất ngờ , vài tháng
trước đó tôi đến chơi Bé đã đâu 1 năm tuổi trắng và đẹp . Lòng tôi bấy giờ nhe se lại nhất là trong tôi
thường nghĩ cháu ngoại thứ trơngr , cháu nội Vụ trưởng mà sao đên đủi ! ? rồi
tf đấy tôi không tin tưởng vào Bệnh \viện sinponne –Pháp trên đất thủ đô .
Trước khi
về ở Lê Phụng Hiểu ,Tôi có đến chơi với Vĩnh ở Nguyễn Thái Học khi vừa ở đơn vị
xa về Hà Nội ; từ đó đến nay chúng tôi bặt tin do tôi ít có dịp đi ra phố Hà Nội
mà tập trung làm việc trong cơ quan và ngày nghỉ lại phải đạp xe về Nam Định
thăm nom vợ con và mẹ già , rồi tồi về Nam
Định khi mấy cơ quan bộ Ngoại thương và Ty Lao động Hà nội không chắc cho cả vợ
con tôi về Hà Nội và rồi về hẳn Nam Định sau khi Tổng cục kỹ thuật xem xét và
đồng ý cho chuyển ngành sau khi hai anh điều phối Cán bộ đồng cấp với tôi ,
một phụ trách cán bộ khu vực Hà Nội ,
một phụ trách Cán bộ Khoa học kỹ thuật , thuyết phục tôi không chuyển ngành ,
Tôi thấy trong việc điều động đi nơi khác là một điều động đầy tính cá nhân, tiêu cực chất đầy nên
dự tính xin về nơi khác Tổng cục kỹ
thuật , nhưng rồi tôi có quyết định của Tổng cục – Ban chính sách đồng ý , tôi về hẳn Nam Định sau hơn 4 năm
đeo quân hàm trung úy ở Hà Nội .
. TRONG 12 NGÀY ĐÊM
HÀ NỘI DƯỚI
BOM MỸ
Cuộc chiến
tranh phá hoại Miền Bắc Việt Nam của Mỹ đang ở gian đoạn ác liệt nhất thì chúng
tôi trong trường , khi tốt nghiệp , có thời gian bọn mỹ buộc phải tuyên bố “ném
bom hạn chế “ bởi vì càng dùng nhiều phi cơ pháo đạn dội xuống miền Bắc càng
thiệt hại gấp bội mà không khuất phục nổi Việt Nam ta , còn bị thế giới lên án
. trong thời gian Mỹ ném bom hạn chế trên
một số tuyến đường phia bắc vào Nam
Đoàn quân của các kỹ sư quân sự khóa 1 như Lê Tùng Sơn đã viết : dong cờ
sao vàng trên nền xanh đỏ tranh thủ đi ngày đi đêm vào sâu trong chiến trường
Đông Nam Bộ , còn trong lòng Thủ đô Hà Nội nhân dân yên ổn và tranh thủ những
ngày hòa bình để sản xuất và xây dựng kinh tế , Đường phố tương đối thanh bình
và Tôi tranh thủ tối đa thời gian để học thêm , đọc thêm các giáo trình Đại học
phục vụ cho nhiệm vụ thiết kế , cũng như học tại chức Tiếng Anh trong trường
Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội , đồng thời học lại phần đầu phát âm tiếng
Pháp đã học từ thời Pháp thuộc và ngay sau hòa bình 1954 ở Nam Định . Công tác
, học tập bấy giờ tuy vất vả , hiếm thời
gian nhưng là niềm đam mê của chúng tôi trong lòng Hà Nội .
Nhưng chẳng
bao lâu . Tháng 12 năm 1972 , thua trên chiến trường Nam Việt , Mỹ dùng Máy bay
chiến lược B52 ném bom tàn phá Thủ Đô , Mỹ nhằm mục tiêu san bằng thủ đô Hà Nội
để giành thế thắng trong hội nghị Paris họp giữa Mỹ và 2 ngoại giao đoàn Bắc
Nam , nhưng thực tế đã đảo ngược mong muốn của Mỹ .Tôi không nhớ trong ngày thứ
mấy của 12 ngày đêm Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống .
Hôm đó khoảng
đêm về sáng , còi áo động của Thành phố rúc một hồi dài báo động Máy bay bay
bào ném bom Hà Nội . Tôi đang ngủ trong phòng vừa làm việc vừa ngủ của bộ phận
\quân lực Phòng tổ chức kế hoach cục , bên ven Hồ Tây , nghe còi tôi chạy vào
hầm để ngồi ngủ tiếp , hầm chữ A bằng tre
phủ dầy lớp đất . Hầm tôi trú được 3 người ngay đầu hồi ngoài sân . Lúc đầu
chúng tôi nghĩ Bọn Mỹ sẽ không ném xuống rìa Hồ Tây nơi cơ quan Cục tôi , nên tôi buồn ngủ ngồi
trong hầm ngủ gật , còn một số đồng chí ngó xem pháo và Tên lửa của ta bắn rực
đỏ bầu trồ Thăng Long .
Thình lình ,
tôi hoàn toàn vô cảm trong phần giây như mình không có trên đời , phần giây sau
đó tôi bừng tỉnh và thấy trước mặt tôi là hai đồng chí đạp nhau nằm trên vũng
máu , một người cạnh tôi máu chảy tứ đầu xuống vai ; thế là hầm tôi trú ẩn dính
Tên lửa CỦA PHI CƠ MỸ . ngay lúc đó cũng
vừa khoảnh khắc im tiếng bom đạn , tuy chưa báo yên ; tôi nhảy ra khỏi hầm kêu
cấp cứu , nhưng sân cơ quan lặng ngắt như bãi chiến trường . , dăm phút sau
chúng tôi goi xe con đưa đồng chí bị trọng ythương vào Quân y viện 108 cấp cứu
. Tôi dục lái xe và vài đồng chí đi theo , cùng tôi vừa đi vừa cầm máu để nhanh
chóng vào Viện . May thay người trọng thương cứu được , chỉ phải lấy đi một con
mắt và bó vỡ một bên vai . còn tôi hoàn toàn không dính mảnh nào .
.
Trời sáng ,
chúng tôi dọn dẹp và tôi xem thấy ngay sau lưng chỗ tôi ngồi chỉ còn không đầy
2cm đất nữa là sập hoàn toàn ngay sau lưng tôi ., còn những mảnh vuông như hạt
ngô cắn đầy gáy sách của tôi nơi đầu giường và màn chăn thủng lỗ chỗ khắp nơi .
Qua lần hầm
tôi bị đạn từ đâu đó trong trận khống
kích của Mỹ đợt bắn phà bằng đạn bom tọa độ tức là theo tọa độ mà cường kích
không kể mục tiêu dưới mặt đất , tôi cẩm nhận được một phần giây đồng hồ . Và ,
một Đồng chí Đảng viên , cùng chi bội –Thượng sỹ , thương binh ¾ bấy giờ từ
chiến trường miền Nam về Cục làm thống kê quân lực chết ngay trên đất thủ đô
ngỡ đâu là “sống thọ” Tôi thầm nghĩ ; Thật đau sót , trên chiến trường máu lửa
không chết , về Thủ đô chết để lại người vợ trẻ và hai con thơ dại nơi quê nhà
cách Hà Nội chừng 40 ki-lô-mét . __ Ứng Hòa Hà Tây . Chiến tranh mà !
Sau hôm bị bom các Phòng đều ăn ở và làm
việc trong hầm chữ A rải rác , , khi bom
B52 dữ dội , chúng tiôi phải trú ẩn
trong hầm Bêtông đã xây trước đó ; nhưng
an toàn tính mạng vẫn không tuyệt đối mà ngược lại Tiếng máy bay , bom đạn nổ
còn lộng óc khi ngồi trong hầm Bê Tông khó chịu nổi .
Sau một tuần
lễ đánh phá của B52 , chúng tôi có lệnh , những Cán bộ không cần giải quyết
công việc thường nhật cấp phát vật tư hoặc kế hoạch quân lực thì đi sơ tán
xuỗng các cơ sở ,đồng thời giúp cơ sở trong công việc hàng ngày .
Tôi được
phái đến sơ tán ở nhà máy T-606 năm trước tôi đã được cục biệt phái xây dựng ở
đó và giúp đớ phòng kỹ thuật và giám đốc trong những khó khăn , vướng mắc về kỹ
thuật .
Nhưng cũng
nơi đây chẳng mấy an toàn vì theo đường chim bay thí cách bến Phà Khuyến Lương
không xa là mấy , tôi ẩn trong hầm đất còn nhân dân sợ hãi , họ bỏ chạy hết ra
hầm trú ẩn ngoài cánh đồng .
Những ngày
bom B52 hà nội tôi không có tin tức gì về các cuộc ném bom của Mỹ ; nhưng nhờ
chiếc Radio tự lắp gì đó của chủ nhà nơi
tôi ở sơ tán nên ngay sau khi kết thúc ném bom và tuyên bố chấm dứt hoàn toàn
ném bom miền Bắc là tôi lên xe đạp về Cơ quan Cục .
. Sau những
ngày Hiệp định đình chiến, Paris
được ký kết tôi lại tiếp tục về Trường
Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà nội để học tiếp năm thứ 4 đại học anh văn
tại chức và lớp tiếng Pháp của Hà Nội .
Sau giải phóng miền nam 30/4/1975 xong xây
dựng khu B – của T B T Lê Duẩn Tôi chuyến sang phòng Quản lý kho và làm nhiệm
vụ quy hoạch và quản lý kỹ thuật các kho thuộc Cục cũng như thiết kế các phương
tiện bốc dỡ trong kho theo mục tiêu giảm bớt sức lao động chân tay và giảm lao
động trong kho cùn với việc nghiên cứu quản lý vật tư theo mã hóa .
.
Cho nên tôi hay
phải đi công tác xuống các kho và đoàn vận tải , bởi thế việc học ngoại ngữ
không bảo đảm thường xuyên và ngày thi lấy bằng đại học tôi không có mằt ở Hà
Nội .
Những năm
công tác và làm việc ở Hà Nội tôi chỉ
gặp lại dăm bạn đồng đội thân thiết trên phố thủ đô , rồi dần không gặp được .
Vả chăng , những ngày sống trong lòng Hà Nội vì bận rộn với việc thiết kế thi
công và học , đọc sách , lại còn đạp xe về Nam Định nên liênlạc của tôi với
đồng đội khóa một dần mất .
Tôi còn nhớ , ngày 30/4 1975 buổi tối , tôi
cùng bạn đồng cấp cùng phòng bên Kế
hoạch Trung úy Khúc Anh Phẩm người vừa về phòng tôi sau khi ở chiến trường miền
nam ra, cùng nhau đạp xe vòng quanh phố phường Hà Nội , trong long sướng vui
khôn xiết ./
Nói là những kỷ
niệm và dấu ấn lịch sử thì riêng tôi chẳng có gì mà chỉ viết lại để nhớ về một
thời sỹ quan kỹ thuật trong lòng Hà Nội , may mà không đổ máu chỉ toàn là mồ
hôi và nước mắt với lòng say mê : sống, học tập , và phục vụ Quân đội nhân dân
Việt Nam mà tôi đã xác định – suốt đời khi đã là một học viên khóa đầu tiên của
học Viện K T Q S hôm nay từ khi rời quân chủng Hải quân từ ven bờ Hạ Long về trường đại học /
Lời nói đầu và lời tác giả .
Mỗi
người chúng ta sống trên mảnh đất việt nam mà mảnh đất này__ một dòng Hồng Hà
xuyên dọc nửa phần đất nước với một dòng Mê-Kồng đổ ra Biển Đông bằng chín dòng
sông xanh trong mà người xưa đã đưa lại cho tên gọi hôm nay –Cửu Long Giang
. Mỗi người và từng người sống qua một
thời nghèo nàn , cực khổ và oanh liệt qua mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc
Việt Nam , một dân tộc với Văn minh Đồng bằng Sông Hồng ___ Cái nôi của loài
người còn nguyên vẹn rừng nguyên sinh
Cúc Phương với Động Người xưa trên lưng chừng vách núi Cúc Phương ; Đi qua trọn
vẹn cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc V.N và những năm xây dựng tổ
quốc ta trong hòa bình đều là những
thiên tiểu thuyết cuộc đời con người mà
những tác phẩm văn học chỉ thể hiện được
từng nét, từng nét , mà rất khó
có thể có một tác phẩm văn học nào lớn
đủ cho nó .
Bởi vậy
những đoạn hồi ký của người ta tưởng như phi văn học , và của cá nhân ai đó ngỡ
là không mấy giá trị , chỉ là của cá thể ai đó thôi , không , đó là những viên
gạch đã được nung chin từ nắm đất sông Hồng để xây lên thành những tòa biệt thự
văn học , những dãy nhà bảo tàng lịch sử dân tộc qua từng thời kỳ và giai đoạn
lịch sử Việt Nam .
Năm 2012 ,
cuối năm , sau một vòng tròn trên không dưới đất NamĐinh –Hà Nội –Sài Gòn –Hải
Phòng –Hà nội –Nam Định liên lạc của tôi với
đồng đội –học viên Trường Đại học kỹ thuật quân sự việt Nam Khóa thứ
nhất –C213 được nối lại sau nhiều năm
tôi không biết và cũng không ai biết tôi trôi nổi về đâu sau khi rời Quân đội
từ hàng ngũ Sỹ Quan kỹ thuật Thủ đô về nơi chôn rau cát rốn của mình .
Viết hồi ký này
của tôi có lẽ bắt nguồn từ ý tưởng của
Nghiêm Sỹ Chúng . .
Nghiêm Sỹ Chúng _ Thiếu Tướng – Phó Tiến sỹ khoa học
kỹ thuật = Tiến sỹ
Gửi thư cho
đồng đội vả tôi có được từ Email của Tiến sỹ Đại Tá Lê Kinh Tuyến Viện Nghiên
cứu kỹ thuật quân sự V.,N cũng như vậy
từ Tiến Sỹ --Đại Tá Nguyễn Nước Trường Đại học Kỹ thuật quân sự Trần Đại Nghĩa
( Trường Kỹ thuật Quân sự Vin –Hem –Pích )
.
Xin chép ra
đây toàn văn thư của Nghiêm Sỹ Chúng .
Và , có thể nói đó là điều cảm xúc và viết những trang
hồi ký của tôi từ khi về trường Đại học cho tới khi tôi về nghỉ hưu không ai
biết đến .
Và Tôi nghĩ
rằng : bản anh hùng ca của dân tộc Việt Nam ta cũng nằm trong từng trang hồi ký
, hồi ức của mỗi người đi qua trọn vẹn hay một phần của chiến tranh vệ quốc và
giải phóng dân tộc Việt Nam , dù ở đâu , trên chiến trường hay nơi hậu phương ,
hoặc giữa lòng thành phố ,hoặc trên Thủ đô ngàn năm văn hiến .
Thư gửi các ban cựu học viên C213 ĐHKTQS
Các bạn thân
mến,
Trong những năm gần đây HVKTQS đã phát
động những đợt viết hồi ký về nhà trường và đã xuất bản 2 ấn phẩm là Không gian tình thầy (10-2006) và Mái trường trong ký ức (10-2011) gồm
khoảng 150 bài viết của các thày giáo và học viên của HV trong suốt 45 năm qua.
Nhưng đáng tiếc vì lý do thiếu thông tin nên các học viên khóa 1 chúng ta tham
gia rất ít.
Những
chặng đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là những
kỷ niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy giành
một phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn chúng
ta đã đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của các bạn
sẽ tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển chọn những bài hay để đóng góp cho ấn
phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi
chúng ta lâu nữa!
Chúng
tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường
và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là
thời kỳ 1971 – 1975.
-
Bài viết bao gồm
các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.
-
Đề tài tự do, tất
cả những gì là kỷ niệm của bản thân, có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt
nhưng lại là những minh họa sống động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác
của chúng ta khi ấy.
-
Mỗi người nộp cho
một ảnh chân dung cỡ 3x4 hoặc 4x6 kèm theo thông tin cá nhân: ngày sinh, địa
chỉ, điện thoại, vợ con… để in vào tập sách (của tất cả mọi người trong C213).
Địa chỉ gửi bài : Nghiêm sỹ Chúng, nhà số 16, ngõ
71/14 phố Hoàng Văn Thái, Thanh Xuân, Hà Nội, ĐT: 069562073 – 0973128873 email:
ttbinh2@yahoo.com
Thời gian gửi bài đến hết tháng 12/2013.
Rất mong nhận được sư hưởng ứng của tất cả anh em
chúng ta, Cảm ơn!
TM BLL học viên khóa 1
.Nghiêm Sỹ Chúng
NĂM THÁNG
KHÔNG QUÊN
Thay lời đầu và lời tác giả
Cho toàn tập hồi ký
“Những chặng
đường chúng ta đi qua đều để lại những dấu ấn của từng người và là những kỷ
niệm đẹp khó quên. Vì vậy Ban liên lạc chúng tôi đề nghị các bạn hãy giành một
phần thời gian làm cho quá khứ của mình sống lại trong khi phần lớn chúng ta đã
đến hoặc có người đã qua cải tuổi “cổ lai hy”. Những bài viết của các bạn sẽ
tạo nên một tập sách kỷ niệm của C213 chúng ta đồng thời sẽ tuyển chọn những bài hay để đóng góp cho ấn
phẩm chung của HV xuất bản trong dịp kỷ niệm 50 năm. Thời gian không chờ đợi
chúng ta lâu nữa!
Chúng
tôi đề nghị các bạn viết lại những kỷ niệm của mình về những năm tháng ở trường
và những chặng đường mà các bạn đã trải qua sau khi tốt nghiệp, đặc biệt là
thời kỳ 1971 – 1975. Bài viết bao gồm
các thể loại văn thơ và cả những bức anh chụp trong thời kỳ đó.
Đề tài tự do, tất cả những gì là kỷ niệm của bản thân,
có khi chỉ là những điều riêng tư, vụn vặt nhưng lại là những minh họa sống
động cho cuộc sống học tập, chiến đấu công tác của chúng ta khi ấy. …..(NGHIÊM
SỸ CHÚNG ) “
-
TR ÊN Đ ẤT TH
ÁNH__H À N
ỘI
Thời gian trôi đi mà ta không để ý thì chỉ như một
chớp mắt của thế kỷ mà thôi . Hà Nội , Sài Gòn tên các đường phố tôi đi và đây
đó tên gọi của chúng đối với ai đó có vẻ như xa xôi như thời Trần Hưng Đạo ,
Quang Trung , Các tên trường học ai đó nghe cũng xa xôi như Lê Quý Đôn , Lương Thế Vinh và V ân V ân .. Nhưng trong
tôi những tên đường phố , tên trường thật gần sát ngay bên mình , và tôi lại
nhớ đến những ngày chúng tôi ra trường
và đi trên khắp miền của Tổ quốc thân yêu .
Trong những
ngày hè của năm 1971 gần 300 Kỹ sư quân sự của Trường Đại học kỹ thuật quân sự trong
buổi Lễ Tốt nghiệp . chúng tôi đón Tướng Vương Thừa Vũ v à Trần Đại Nghĩa về
trường và Đại tá Chính uỷ kiêm Hiệu
trưởng Đặng Quốc Bảo cùng nhiều Đại tá khác trong suốt buổi lễ với bầu không
khí hân hoan bởi khoá kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam , buổi lễ thật trịnh trọng tuy không có mũ áo cử nhân như
hôm nay , chỉ những bộ quân phục với quân hàm học viên sỹ quan quân đội , bởi
chúng tôi chưa có quyết định quân hàm cho từng người . Thế mà , bây giờ tên các vị tướng ấy đã là
tên đường phố , tên trường học , và có học viên đã là Trưởng khoa của trường
mang tên người làm lễ tốt nghiệp cho
mình và tôi cảm thấy như thời gian ngừng
trôi , bởi chẳng mấy khi chúng tôi nghĩ đến tuổi tác của mình mà chỉ thấy mới
như sau một đợt chiến dịch mà thôi.
Sau lễ tốt nghiệp, chúng tôi trở về doanh
trại và tiếp tục tập vượt núi Tam Đảo dựng đứng để chuẩn bị cho Những ngày Vượt
Trường Sơn khi có lệnh vào chiến trường Miền Nam
. Lại là những ngày gian khổ mới khi mà đường vượt của chúng tôi tuy
ngắn hơ n đường vượt của Sư đoàn 312 nhưng dốc núi dựng đứng và đường hành quân
hiểm trở __-một con đường vạch theo bản đồ tác chiến đột nhập hẳn Tam Đảo bất
chấp núi đứng dựng thách đố người lính trẻ sung sức , cùng ba lô và hành trang
tới 30 kg . Gian khổ bấy giờ của chúng tôi cũng vợi đi và được khích lệ bởi các
đoàn tàu hoả chở Xe tăng chiều chiều từ Ga Vĩnh Yên chạy trên đường sắt mà trên
khu nhà bốn tầng xây dở dang , hoặc đâu đó trước cổng trường chúng tôi thấy mỗi
chiều khi ‘hoàng hôn gần buông hoặc khi trời chiều miền trung du đầy gió .
Sau nhận quyết
đinh quân hàm thuộc hàng ngũ Sỹ Quan Quân đội , chúng tôi nhận ngay địa điểm
nhận công tác ,rồi lần lượt rời khỏi mái trường Đại học đầy kỷ niệm này ..
Tôi được nhận
Quân hàm Thiếu uý cùng giới thiệu chung về Trạm 66 Bộ Quốc phòng tại Hà Nội .
Lần lượt
chúng tôi đi nhận nhiệm vụ về những đơn vị khác nhau , từ đó bắt đầu những
chặng đường mới trên vai trách nhiệm của một kỹ sư quân sự cùng với sự trưởng
thành vượt bậc qua năm năm học tập và
rèn luyện trong trường với lòng yêu thương và tin tưởng của Bộ Quốc phòng . Về
trạm 66 nhận nhiêm vụ ,trong đại đội của tôi , tôi thấy chỉ có mình tôi và đợi
cho đến cuối cùng mới được đồng chí phụ
trách phân công cán bộ của Tổng Cục kỹ thuật phân công cho tôi và anh Nguyễn Văn
Trình đại đội chuyên tu khóa 1 về Cục Vật tư ở Bưởi .
Hai anh em chúng tôi một Trung úy , một Thiếu úy Kỹ sư
quân sự được thông báo về Cơ quan Cục ; Trạm 66, đi bộ đoạn ngắn chúng tôi đeo
ba lô lên Tàu Điện bên vườn hoa về Bưởi .
Cục Vật tư bấy
giờ sát ngay bên bờ Hồ Tây , đối diện ở bờ bên kia là khách sạn Thắng Lợi nhô
ra soi mình xuống mặt hồ xanh trong .
Anh Trình được
quyết định Trạm Trưởng xuống Trạm Sửa
chữa của Cục bên Gia Lâm , còn tôi nhận
quyết định Trợ lý Xây dựng Nhà máy của Phòng Tổ chức –Kế hoạch Cơ quan Cục với bản đánh máy và chữ ký của
Thượng Tá –Cục trưởng Trần Ngọc Giao .
Cũng trong khi
đợi ở gian nhà lá chờ gọi là phòng khách
tôi ngẫu nhiên gặp lại Nhơn người Quảng Bình cùng tiểu đoàn huấn luyện Hải Quân
ở Căn cứ II –năm xưa - Trung úy , cũng đang chờ vào Cục để nhận quyết đinh ,
theo Nhơn nói là để đi B , và bấy giớ
nói là đang làmChính trị viên của xưởng Sản xuất Sơn và Khí Ô-Xy của Cục dưới
Kiêu Kỵ --Phú Thụy Hưng Yên . Xưởng này về sau tôi được biết cũng từ Quân chủng
Hải Quân chuyển giao sang để hợp thành
nhà máy mà tôi làm trợ lý xây dựng khi đó chỉ có xưởng giao sang . Và Nhơn và
tôi chỉ nhận nhau sau gần 10 năm từ khi rời tiểu đoàn huấn luyên để xuống tàu và
đi các đơn vị bờ biển ; không kịp
chuyện gì thì tôi và Anh Trình vào Cuc còn mình Nhơn ngồi chờ ; rồi tôi đoán rằng
: Nhơn đã đi học Sỹ quan năm 1964 trường sỹ quan Hải quân –trường 45 Quảng Yên
– Quảng Ninh mà năm đó tôi đã xin ở lại Khu Tuần phòng Hải Phòng không đi học ,
sau khi rời đoàn không số xuống tàu Tan-kít
rồi lên trạm sửa chữa Hải Phòng .
.
TRONG LÒNG HA NỘI
NHỚ NHỮNG
NGÀY BÊN BỜ HỒ TÂY
Sau những năm thiết kế và chỉ huy thi công nhà máy T
606 Cục Vật Tư bấy giờ , năm 1974 tôi nhận quyết đinh về lại Cục Phòng Tổ chức
kế hoạch sau khi hoàn thành lắp đặt xong toàn bộ hệ thồng cung cấp và phân phối
mạng Điện Hạ Áp cho Nhà máy để thiết kế tiếp theo hệ thống chiếu sang cho dãy
nhà 2 tầng làm khu nhà Hành chính T-606 . Vừa thiết kế xong thì Cục Giao cho
tôi và anh Hồ Ngọc An Trợ lý –Trung úy –Kỹ sư xây dựng , thiết kế và hướng dẫn
thi công một khu làm việc , nghỉ ,và họp phụ của Tồng bí Thư Lê Duần trên khu
đất kề bên cơ quan Tôi bấy giờ , và được biết để T.B.T khi cần thiết yên tĩnh ,
xa Thủ phủ khi làm việc , lúc nghỉ ngơi hay các cuộc họp .
Tôi nhận
trách nhiệm thiết kế và hướng dẫn thi công toàn bộ hệ thống điện , nước trong
nhà , các phòng : phòng ngủ ,phòng khách , phòng họp cũng như khu vực nhà của
các chuyên viên phục vụ ; chiếu sáng ngoài trời cho toàn khu nhà .
Thiết kế ánh
sáng cũng như cấp nước cùng thiết bị Điện nội thất bấy giờ chúng tôi được phê
duyệt trực tiếp với Cục Trưởng trên Bản vẽ thiết kế vật liệu trong ( Bản
chính – trên Giấy Can) .
Trong những
ngày ngồiThiết kế bên Hồ Tây , chúng tôi được gặp Tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm
trước tiên khi đến Cục vì bộ phận chúng tôi là bộ phận kỹ thuật gồm Các kỹ sư
và vài cô Thợ Can .
Tôi còn nhớ :
hôm đó , đang mải vẽ tạo dáng một đèn góc nhà ánh sáng phản chiếu , không để ý
đến trước phòng cục Trưởng có Đại Tướng đến , khi có Cục trưởng vào Đại tường cùng
vài cán bộ đi theo đến hiên trước phòng , tôi mới bỏ cây chì nhìn ra thì Đại
Tướng đã đứng ngay cạnh bàn làm việc của tôi và hỏi :
__ Đồng chí học gì ?
Tôi lung túng
không biết trả lời thế nào , bởi vì khi đó tôi đã vẽ hình dáng đèn góc phản xạ
riêng cho phòng ngủ của Khu B ( Khu B để chỉ khu nhà của Tổng Bí Thư đang được
xây ) , Nó có hình dáng kiến trúc chẳng quan hệ gì đến nhiệm vụ một việc kỹ
thuật của cục Vật Tư ; Tôi chỉ biết trả lời
;
-- Tôi học ở
Đại Học Kỹ Thuật Quân Sự .
Đại Tướng ngạc nhiên hỏi :
--Kỹ thuật Quân
sự sao lại làm cái này ?
Tôi chưa biết
trả lời ra sao thì đứng ngay sau
ĐaiTướng là Cục Trưởng
Ông rất nhanh
trí và trả lời ngay :
--Việc này
cũng thuộc về Điện .
Đại tướng rời
khỏi bàn tôi và bắt đầu thăm hỏi từng người từ chuyên môn cho đến nơi tốt
nghiệp rất thân tình và quan tâm .
Tôi gặp Đại
Tướng lần đầu đã để lại trong tôi lòng kính phục và yêu mến bởi sự gần gũi ,
tác phong gọi là rất quần chúng đượm một màu thân thiết tình đồng chí không
phân biệt ông là chỉ huy và ở cương vị thống lĩnh quân đội nhân dân việt nam .
. những năm ấy Đại Tướng không khỏe ,. người gầy và thường hay xuống cục tôi để
bơi thuyền và nghỉ ngơi bên bờ Hồ Tây này yên tĩnh và mát …
Công việc xây
khu nhà đang tiến hành lắp hệ thống điện thì chiến dịch đánh chiếm tây nguyên
diễn ra ác liệt , nhưng chúng tôi ở ngoài Thành và là bộ phận Kỹ thuật nên
không biết tin gì từ Cục Tác chiến .
Một chiều ,tôi
từ khu B về phòng gửi cặp bảo mật để thể thao chiều thì một cô văn thư thân với
tôi bảo rằng :
__Anh có quyết
định đi B đấy .
Tôi nói :
__Không biết ,
mình vừa bên Khu B về !
Hôm sau ,
Tôi thấy quyết định anh bạn – Trung úy Lê Đình Tấn cũng cấp với tôi – Kỹ sư cơ khí chế tạo Bách
khoa Hà Nôi khóa 7 . nhận quyết định cùng Cục Phó Ngô Kỷ đi B .
Đó là khi vừa
giải phóng xong Ban Mê Thuột và Cục Phó và một kỹ sư giỏi , có năng lực và biết
ngoaị ngữ đi để thu hồi toàn bộ vật tư và chiến lợi phẩm sau khi quân ngụy tháo
chạy .
Khi từ Ban Mê
về mang về Cục trước khi chuyển tổng cục , tôi mới mục sở thị bộ Grande La
Rouss của Tiếng Pháp mà trước đây chỉ có trong thư viện cuốn Petite La Rouss .
Nó gồm 24 cuốn khổ Letter , một cuốn cho một chữ cái pháp ngữ .
Khi
đó tôi có quyết định đi B là văn bản do
văn thư đánh máy để xin chữ ký Cục trưởng
nói cho tôi biết ; nhưng bấy giờ
phải dừng công việc khu B , nếu tôi
đi Ban –Mê- Thuột như điều động của phòng cán bộ -chính trị Cục .
Kể từ khi
giải phóng Ban Mê Thuột , cuộc tiến công giải phóng miền nam và đánh vào Sài Gòn
dần dần bắt đầu vào chiến dịch mới mà mãi sau này mới gọi là Chiến dịch Hồ Chí
Minh , chúng tôi vẫn tiếp tục phải hoàn thành công trình xây dựng của bộ giao
cho Cục chúng tôi . Trong thời gian gọi
là Chiến Dịch Hồ Chí Minh và khi hoàn thành , giải phóng Sài gòn ,thì chúng tôi cũng đã hoàn
thành xong khu B của Bộ Quốc phòng giao cho.
Trong những
ngày đầu hoàn thành sau giải phóng Sài gòn , tôi cũng đã được gặp Tổng bí thư
Lê Duẩn vừa từ Sài gòn ra đến xem , kiểm tra Khu B , có khi bằng Xuồng máy từ
phía bờ Khách sạn Thắng Lợi sang , có khi đi Ôtô vừa lấy từ phía nam ra .
_Trong một
ngày nghỉ , Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khi đi nghỉ bằng Pê-Rit-Xoa từ phía khách
sạn ghé lên Khu B Phía ngoài Khu B cạnh
đường là một trường tiểu học . khi biết Thủ Tướng đến thăm khu B, Các cháu học
sinh tiểu học quanh đấy gọi nhau đến xúm quanh Thủ Tưứng và Thủ tướng than mật
chuyên trò thăm hỏi .KHi đó Thủ Tướng gầy gò lắm
Những lần đi
bên Tổng Bí Thư và Thủ Tướng trong Khu B đã cho tôi một cảm nhận tốt đẹp về các
nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam chúng ta ; đó là sự gần gũi nhân dân và
được nhân dân tin tưởng , yêu mến , nhất là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Từ người
già , trẻ nhỏ ai ai cũng kính trọng và yêu mến .
Đối với Đại
Tướng đã để lại trong tôi một tác phong giản dị , sâu sát của một chỉ huy , một
Tướng lĩnh gần gũi với mọi cấp sỹ quan trong quân đội nhân Dân việt Nam .
Một Bản lĩnh Tướng Soái Việt Nam .
Cho đến bây giờ tôi mới hình dung ra những nẻo đường
các kỹ sư quân sự khóa 1 , sau khi ra trường tỏa đi khắp đơn vị quân đội phục
vụ cho cuộc kháng chiến giành đọc lập tự do trong giai đoạn vũ khí và phương
tiện chiến tranh là quan trọng nhất ; chúng tôi người đi chiến trường , người ở
lai hậu phương trong các cơ quan khoa học và kỹ thuật để xây dựng một hậu thuẫn
kỹ thuật quân sự trong cuộc chiến .
Trong những
ngày vừa về Cục , tôi gặp Lê Kinh Tuyến ở Viện Nghiên cứu Kỹ thuật quân sự khi
tôi sang tham dự , nghe một hội thảo và báo cáo Đề tài Nghiên cứu của Viện . Có
thể nghĩ rằng các kỹ sư quân sự đầu tiên của Việt Nam không những có mặt trên
các chiến trường , các quân đoàn binh trạm và cả trên thủ đô đều đóng góp hết sức mình để đi đến thắng lợi
30 tháng 4 1975 , xứng đáng là đầu đàn của Học viện hôm nay .
NHững Ngày B52 Mỹ
Dội bom xuống Hà Nội
Vừa tốt nghiệp ra trường , tôi được điều động làm trợ
lý xây dựng nhà máy và lao vào công việc bổ túc tri thức loại hình thiết kế mà
trong trường chúng tôi chỉ được học đúng theo hệ kỹ thuật quốc gia bấy giờ .
cho nên , khi Thiết kế các phân xưởng sửa chữa cũng như thiết kế các hệ thống
Dân sự , tôi phải “tự” đào tạo ;học và nghiên cứu phù hợp với các công trình
dân sự mang tính quốc phòng chứ không phải các trận địa T_Tên lửa hay Pháo 100 , hay một trận địa RA-
Đa nào đó . Trong đó cần tự học và nghiên cứu thiết kế nhà máy , phân xưởng Sản
xuất và sửa chữa Công nghiệp ; cũng như vậy với Hệ thống chiếu sáng và đặc biệt
là Hệ thống chiếu sáng bằng đèn huỳnh quang mà trong trường nó nằm ngoài chương
trình đào tạo ; do đó tôi phải học thêm và nghiên cứu qua giáo trình mới , tìm
trong Thư viện Khoa học Kỹ Thuật TW__ Lý Thường Kiệt bấy giờ ; Khó khăn không phải
gặp kẻ thù như ngoài chiến trường , tiền phương mà phải tiếp cận với cái mình
chưa được học , cho nên phải Tự học trên giáo trình mới và trên thực tế các xí
nghiệp bấy giờ . còn chiếu sáng bấy giờ , dùng đèn huỳnh quan như là một sự
chiếu sáng sa xỉ đối với nhân dân ., vì là khu nhà của Tổng bí thư nên tôi phải
đọc và học hết một giáo trình chiếu sáng điện bằng đèn huỳnh quanh bằng Tiếng
Nga cà vừa học vừa Thiết kế ; bấy giờ nhiều người kêu ca là tôi dùng nhiều đèn
quá , rồi sau ngày giải phóng Sài gòn người đi công tác trong đó ra lại bảo ánh
sáng khu B ăn thua gì ! …; lại trong chiến tranh chống bắn phá của Mỹ nên Dụng
cụ chiếu sáng thích hợp hầu như không có , kể cả trong Tất cả các kho Vật Tư
Công nghiiệp của Cục tôi , ví như chụp đèn chiếu sáng ngoài trời , blog , giá đèn huỳnh quang đều không kiếm
đâu ra . Để tìm một chụp đèn cổng vào khu B thôi, tôi tới Các kho và vào cả xí
nghiệp Thủy Tinh Dân Chủ , xí nghiệp
Thủy Tinh Hà nội bấy giờ , đi cùng cán bộ chạy Vật tư của Cục , vẫn không có ;
cuối cùng đành lấy một chụp đèn trần trên tàu biển thay cho Chụp đèn tương
thích cho Cổng ra vào khu vực .
Những ngày
nóng nực dưới trời Thủ đô , đúng là nắng lửa , đúng vào dịp chiến tranh phá
hoại của miền Bắc của Mỹ leo đến mức ác liệt và chúng kiên quyết nhất , trường
Đại Học Bách khoa phải tạm dừng học tập
để sang phục vụ quân đội . Đó cũng là thuận lời cho tôi khi vừa ra trường và
cùng phối hợp với các giảng viên Đại học Bách khoa cùng thiết kế và bảo vệ
thiết kế , cũng như sự kiểm soát thiết kế của tôi bấy giờ do một vài Phó tiến
sỹ phối hợp .
Công việc
thiết kế nhiều , bản vẽ lắm , nơi làm
việc không thể tập trung và khó có thể xa Hà Nội đến nơi sơ tán của Bách khoa ,
, nên tôi làm việc ở cơ quan bên bờ hồ tây phia Bưởi thường phải đi theo dõi và
phối hợp trong trường Bách khoa cuối đường tàu điện , nhưng chiến tranh không
thể ngồi tầu điện mà phải cuốc bộ đi làm việc bởi mới về cơ quan chưa có xe đạp
phân phối để công tác . Đó cũng là những tháng ngày cũng tốn nhiều sức lực
trong khi đó các đồng đội tôi , bây giờ tôi mới biết , rất đông đang lăn lộn
trên chiến trường Miền nam và các quân đoàn cơ động , còn tôi chỉ mệt nhoài
giữa Thủ đô mà thôi . .. Và tronh sự mệt nhọc do ddi bộ dọc Hà Nội mà tôi “
nghiệm trên người mình “ ché nước chè 4 hào rưởi đặc quánh, từ đó … ..băt đầu
uống trà và … nghiện trà luôn !
Ở Hà Nội
cho đến khi tôi chuyển ngành ra ngoài , những ngày Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống Thủ đô ta cũng
là những ngày không thể nào quên của tôi trên đất Thăng Long Hà Nội .,cùng với những năm tháng sống trong
lòng Hà Nội .
KHÔNG ĐỀ
Những người con được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội rổi rời
Hà Nội đi chiến đấu ,cũng như những người con của Hà Nội từ miền đồng bằng Hồng
Hà lân cận về Thăng Long trong sắc phục quân đội Nhân dân V.N qua trọn vẹn cuộc
chién tranh vệ quốc và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam , trong thế kỷ 21 này người Nam kẻ Bắc , người trên Thủ
đô , hết thảy đều tự hào về Thủ đô thân yêu của chúng ta , biết bao vui buồn ,
kỷ niệm và tình yêu .
Tôi nhớ lại
Nguyễn Huy Tưởng với những Tiểu thuyết “ Sống mãi với Thủ Đô “ và Trong lòng Hà
nội “ ___ tiểu thuyết như một anh hùng ca của thế hệ trẻ cha anh chúng ta ,
những thanh niên thủ đô bất khuất , và như vậy nghĩ về Những người ra đi chiến
đấu từ Thủ đô và được về Thủ đô trong Bộ đội Việt Nam đã nối gót được người xưa
nhưng trên khắp mọi chiến trường dọc theo mảnh đất việt Nam dài và hẹp với dải
Trường Sơn trùng điệp hàng ngàn cây số từng đoạn uồn mình quanh sát biển Việt
Nam cũng làm nên nhiều huyền thoại trên rừng dưới biển .
Tôi về Thủ Đô từ khi là một Binh nhất Hải quân
và rồi sau mấy năm là Trung sỹ Hải quân với những lớp học ngắn ngày cả về Văn
hóa ,cả về thể thao, cả về kỹ thuật vài tháng , cả trong hòa bình , cả trong
chiến tranh .Hà nội gần 10 năm trong nhiệm vụ Sỹ quan kỹ sư kỹ thuật quân sự
thì những kỷ niệm ký ức về công việc , bạn bè không phai cho dù năm tháng đã
thay màu sắc : chiến tranh , hòa bình . kinh tế , quân sự trong một thời đại
nào cũng thế mà thôi .
Có lẽ ,
tình bạn , tình đồng chí , tình thày trò của chúng tôi trong Khóa đầu của Học viện Kỹ thuật Quân sự hôm nay có
đặc thù riêng không khóa nào , trường nào , thời nào có ; bởi đó là tình đồng
chí từ khắp miền Bắc trong 3 quân chủng khoác ba lô rời vị trí chiến đấu tập luyện
về trường trong niềm tin của Bộ quốc phòng
và đồng đội cùng nhau cùng một tuổi thanh xuân đầy ước mơ hoài bão cống
hiến cho đất nước đang hừng hực khí thế cách mạng của nửa sau thế kỷ thứ 20 , tình cảm đồng đội , bạn bè bắt nguồn từ
những người lính không có gì ngoài tình
yêu và ước vọng , cho nên vô tư đến ngây thơ trước cuộc sống đời thường .
Những năm cuối
của khóa học tốp cùng tiểu đội tôi ở Vĩnh yên
có “ Ngô Ngọc Vĩnh , Nguyễn Ánh Sáng và Nguyễn Văn Đáo ; tình đồng đội
trong những năm đèn sách còn theo tôi trong những năm sống trong lòng Hà Nội.
Chuyện xem ra
chẳng có gì đáng kể , nhưng tôi nghĩ đó là những mẩu đới mất mát và thiệt thòi
trong một đất nước như nước ta và với người lính , người sỹ quan quân đội như
một hy sinh thầm lặng mà có chiến công cũng dựng lên trên những đau khổ nơi hậu
phương trên tay người vợ hiền và bé thơ ..
Khi ra trường
và trước khi đi B , Vĩnh cưới Dương Vân Kim con gái thứ trưởng Dương Bạch Liên
tôi không dự và cũng không hay , chỉ biết họ yêu nhau khi tôi và Vĩnh cùng đóng
quân ở Văn Tiến , trong một cái buồng đầu trái chỉ vừa đủ cho 2 phản cá nhân
tôi và Vĩnh để cùng nhau đèn sách , có khi cùng về Hà nội và chúng tôi qua nhà
Vân Kim ở 67 Nguyễn Thái Học .
Năm 1971 hoặc đầu 1972 gì đó . Kim sinh con trai đầu lòng
khi Vĩnh đang trong chiến trường Nam bộ , tôi không biết ở đâu . Một
chủ nhật tôi đến thăm Kim và bé con Vĩnh thì thật mừng vì bé giống Vĩnh hơn một
tượng do một nghệ sỹ ưu tú tạc cho .
Tưởng như sẽ
là tốt đẹp và hạnh phúc với một cháu ngoại của một Thứ trưởng thứ nhất ; nhưng
thực tế phũ phàng đã đảo ngược niềm hạnh phúc kia .
Chừng hơn 4
tháng sau cũng một ngày chủ nhật tôi ghé qua 67 Nguyễn Thái Học để thăm Bé con
Vĩnh ; nhưng thật không ngờ , chỉ vì thiếu sữa mẹ , phải dung sữa bò cho ăn
ngoài , nhưng sự vô trách nhiệm của bảo mẫu nhà trẻ , vì khi đó Kim phải đi làm
trong xí nghiệp Ô-Tô 1 . 5 Hà Nội . Bé bị đi ỉa mất nước và lìa khỏi cõi trần
trong khi người thân sinh xa biền biệt nơi quân ngũ .
Nhưng số
phận con người còn nghiệt ngã hơn.
Hà nội .
Một sáng đầu
tuần trước khi đến giờ làm việc , chúng tôi ngồi chuyện phiếm ,uống trà bốn hào
rưỡi – chè nước văn phòng thuở ấy ; nói chuyện về bạn bè tôi , Đào Kim Chi Kỹ
sư ô tô bách khoa khóa 7 , nhân vì nhắc đến hôm tôi đến thăm nhà Vĩnh - Kim khi
đã chuyển về Lê Phụng Hiểu – Hà Nội , Chi nói : Cháu nội Ngộ chết rồi còn đâu !
, Chi biết , vì Chi không ở trong doanh trại cơ quan mà vì được ở tại gia với
bố là Vụ Trưởng ở bộ Tài chính cùng bộ mà bố Vĩnh là VụTrưởng . Nghe tin ấy tôi bán tín bán nghi , ngay sau
đó , chủ nhật nghỉ , tôi đến Lê Phụng Hiểu và Kim nói rằng cháu cũng bị mất
nước và bỏ đi . Thật bất ngờ , vài tháng
trước đó tôi đến chơi Bé đã đâu 1 năm tuổi trắng và đẹp . Lòng tôi bấy giờ nhe se lại nhất là trong tôi
thường nghĩ cháu ngoại thứ trơngr , cháu nội Vụ trưởng mà sao đên đủi ! ? rồi
tf đấy tôi không tin tưởng vào Bệnh \viện sinponne –Pháp trên đất thủ đô .
Trước khi
về ở Lê Phụng Hiểu ,Tôi có đến chơi với Vĩnh ở Nguyễn Thái Học khi vừa ở đơn vị
xa về Hà Nội ; từ đó đến nay chúng tôi bặt tin do tôi ít có dịp đi ra phố Hà Nội
mà tập trung làm việc trong cơ quan và ngày nghỉ lại phải đạp xe về Nam Định
thăm nom vợ con và mẹ già , rồi tồi về Nam
Định khi mấy cơ quan bộ Ngoại thương và Ty Lao động Hà nội không chắc cho cả vợ
con tôi về Hà Nội và rồi về hẳn Nam Định sau khi Tổng cục kỹ thuật xem xét và
đồng ý cho chuyển ngành sau khi hai anh điều phối Cán bộ đồng cấp với tôi ,
một phụ trách cán bộ khu vực Hà Nội ,
một phụ trách Cán bộ Khoa học kỹ thuật , thuyết phục tôi không chuyển ngành ,
Tôi thấy trong việc điều động đi nơi khác là một điều động đầy tính cá nhân, tiêu cực chất đầy nên
dự tính xin về nơi khác Tổng cục kỹ
thuật , nhưng rồi tôi có quyết định của Tổng cục – Ban chính sách đồng ý , tôi về hẳn Nam Định sau hơn 4 năm
đeo quân hàm trung úy ở Hà Nội .
. TRONG 12 NGÀY ĐÊM
HÀ NỘI DƯỚI
BOM MỸ
Cuộc chiến
tranh phá hoại Miền Bắc Việt Nam của Mỹ đang ở gian đoạn ác liệt nhất thì chúng
tôi trong trường , khi tốt nghiệp , có thời gian bọn mỹ buộc phải tuyên bố “ném
bom hạn chế “ bởi vì càng dùng nhiều phi cơ pháo đạn dội xuống miền Bắc càng
thiệt hại gấp bội mà không khuất phục nổi Việt Nam ta , còn bị thế giới lên án
. trong thời gian Mỹ ném bom hạn chế trên
một số tuyến đường phia bắc vào Nam
Đoàn quân của các kỹ sư quân sự khóa 1 như Lê Tùng Sơn đã viết : dong cờ
sao vàng trên nền xanh đỏ tranh thủ đi ngày đi đêm vào sâu trong chiến trường
Đông Nam Bộ , còn trong lòng Thủ đô Hà Nội nhân dân yên ổn và tranh thủ những
ngày hòa bình để sản xuất và xây dựng kinh tế , Đường phố tương đối thanh bình
và Tôi tranh thủ tối đa thời gian để học thêm , đọc thêm các giáo trình Đại học
phục vụ cho nhiệm vụ thiết kế , cũng như học tại chức Tiếng Anh trong trường
Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà Nội , đồng thời học lại phần đầu phát âm tiếng
Pháp đã học từ thời Pháp thuộc và ngay sau hòa bình 1954 ở Nam Định . Công tác
, học tập bấy giờ tuy vất vả , hiếm thời
gian nhưng là niềm đam mê của chúng tôi trong lòng Hà Nội .
Nhưng chẳng
bao lâu . Tháng 12 năm 1972 , thua trên chiến trường Nam Việt , Mỹ dùng Máy bay
chiến lược B52 ném bom tàn phá Thủ Đô , Mỹ nhằm mục tiêu san bằng thủ đô Hà Nội
để giành thế thắng trong hội nghị Paris họp giữa Mỹ và 2 ngoại giao đoàn Bắc
Nam , nhưng thực tế đã đảo ngược mong muốn của Mỹ .Tôi không nhớ trong ngày thứ
mấy của 12 ngày đêm Mỹ dội bom từ Máy bay B52 xuống .
Hôm đó khoảng
đêm về sáng , còi áo động của Thành phố rúc một hồi dài báo động Máy bay bay
bào ném bom Hà Nội . Tôi đang ngủ trong phòng vừa làm việc vừa ngủ của bộ phận
\quân lực Phòng tổ chức kế hoach cục , bên ven Hồ Tây , nghe còi tôi chạy vào
hầm để ngồi ngủ tiếp , hầm chữ A bằng tre
phủ dầy lớp đất . Hầm tôi trú được 3 người ngay đầu hồi ngoài sân . Lúc đầu
chúng tôi nghĩ Bọn Mỹ sẽ không ném xuống rìa Hồ Tây nơi cơ quan Cục tôi , nên tôi buồn ngủ ngồi
trong hầm ngủ gật , còn một số đồng chí ngó xem pháo và Tên lửa của ta bắn rực
đỏ bầu trồ Thăng Long .
Thình lình ,
tôi hoàn toàn vô cảm trong phần giây như mình không có trên đời , phần giây sau
đó tôi bừng tỉnh và thấy trước mặt tôi là hai đồng chí đạp nhau nằm trên vũng
máu , một người cạnh tôi máu chảy tứ đầu xuống vai ; thế là hầm tôi trú ẩn dính
Tên lửa CỦA PHI CƠ MỸ . ngay lúc đó cũng
vừa khoảnh khắc im tiếng bom đạn , tuy chưa báo yên ; tôi nhảy ra khỏi hầm kêu
cấp cứu , nhưng sân cơ quan lặng ngắt như bãi chiến trường . , dăm phút sau
chúng tôi goi xe con đưa đồng chí bị trọng ythương vào Quân y viện 108 cấp cứu
. Tôi dục lái xe và vài đồng chí đi theo , cùng tôi vừa đi vừa cầm máu để nhanh
chóng vào Viện . May thay người trọng thương cứu được , chỉ phải lấy đi một con
mắt và bó vỡ một bên vai . còn tôi hoàn toàn không dính mảnh nào .
.
Trời sáng ,
chúng tôi dọn dẹp và tôi xem thấy ngay sau lưng chỗ tôi ngồi chỉ còn không đầy
2cm đất nữa là sập hoàn toàn ngay sau lưng tôi ., còn những mảnh vuông như hạt
ngô cắn đầy gáy sách của tôi nơi đầu giường và màn chăn thủng lỗ chỗ khắp nơi .
Qua lần hầm
tôi bị đạn từ đâu đó trong trận khống
kích của Mỹ đợt bắn phà bằng đạn bom tọa độ tức là theo tọa độ mà cường kích
không kể mục tiêu dưới mặt đất , tôi cẩm nhận được một phần giây đồng hồ . Và ,
một Đồng chí Đảng viên , cùng chi bội –Thượng sỹ , thương binh ¾ bấy giờ từ
chiến trường miền Nam về Cục làm thống kê quân lực chết ngay trên đất thủ đô
ngỡ đâu là “sống thọ” Tôi thầm nghĩ ; Thật đau sót , trên chiến trường máu lửa
không chết , về Thủ đô chết để lại người vợ trẻ và hai con thơ dại nơi quê nhà
cách Hà Nội chừng 40 ki-lô-mét . __ Ứng Hòa Hà Tây . Chiến tranh mà !
Sau hôm bị bom các Phòng đều ăn ở và làm
việc trong hầm chữ A rải rác , , khi bom
B52 dữ dội , chúng tiôi phải trú ẩn
trong hầm Bêtông đã xây trước đó ; nhưng
an toàn tính mạng vẫn không tuyệt đối mà ngược lại Tiếng máy bay , bom đạn nổ
còn lộng óc khi ngồi trong hầm Bê Tông khó chịu nổi .
Sau một tuần
lễ đánh phá của B52 , chúng tôi có lệnh , những Cán bộ không cần giải quyết
công việc thường nhật cấp phát vật tư hoặc kế hoạch quân lực thì đi sơ tán
xuỗng các cơ sở ,đồng thời giúp cơ sở trong công việc hàng ngày .
Tôi được
phái đến sơ tán ở nhà máy T-606 năm trước tôi đã được cục biệt phái xây dựng ở
đó và giúp đớ phòng kỹ thuật và giám đốc trong những khó khăn , vướng mắc về kỹ
thuật .
Nhưng cũng
nơi đây chẳng mấy an toàn vì theo đường chim bay thí cách bến Phà Khuyến Lương
không xa là mấy , tôi ẩn trong hầm đất còn nhân dân sợ hãi , họ bỏ chạy hết ra
hầm trú ẩn ngoài cánh đồng .
Những ngày
bom B52 hà nội tôi không có tin tức gì về các cuộc ném bom của Mỹ ; nhưng nhờ
chiếc Radio tự lắp gì đó của chủ nhà nơi
tôi ở sơ tán nên ngay sau khi kết thúc ném bom và tuyên bố chấm dứt hoàn toàn
ném bom miền Bắc là tôi lên xe đạp về Cơ quan Cục .
. Sau những
ngày Hiệp định đình chiến, Paris
được ký kết tôi lại tiếp tục về Trường
Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hà nội để học tiếp năm thứ 4 đại học anh văn
tại chức và lớp tiếng Pháp của Hà Nội .
Sau giải phóng miền nam 30/4/1975 xong xây
dựng khu B – của T B T Lê Duẩn Tôi chuyến sang phòng Quản lý kho và làm nhiệm
vụ quy hoạch và quản lý kỹ thuật các kho thuộc Cục cũng như thiết kế các phương
tiện bốc dỡ trong kho theo mục tiêu giảm bớt sức lao động chân tay và giảm lao
động trong kho cùn với việc nghiên cứu quản lý vật tư theo mã hóa .
.
Cho nên tôi hay
phải đi công tác xuống các kho và đoàn vận tải , bởi thế việc học ngoại ngữ
không bảo đảm thường xuyên và ngày thi lấy bằng đại học tôi không có mằt ở Hà
Nội .
Những năm
công tác và làm việc ở Hà Nội tôi chỉ
gặp lại dăm bạn đồng đội thân thiết trên phố thủ đô , rồi dần không gặp được .
Vả chăng , những ngày sống trong lòng Hà Nội vì bận rộn với việc thiết kế thi
công và học , đọc sách , lại còn đạp xe về Nam Định nên liênlạc của tôi với
đồng đội khóa một dần mất .
Tôi còn nhớ , ngày 30/4 1975 buổi tối , tôi
cùng bạn đồng cấp cùng phòng bên Kế
hoạch Trung úy Khúc Anh Phẩm người vừa về phòng tôi sau khi ở chiến trường miền
nam ra, cùng nhau đạp xe vòng quanh phố phường Hà Nội , trong long sướng vui
khôn xiết ./
Nói là những kỷ
niệm và dấu ấn lịch sử thì riêng tôi chẳng có gì mà chỉ viết lại để nhớ về một
thời sỹ quan kỹ thuật trong lòng Hà Nội , may mà không đổ máu chỉ toàn là mồ
hôi và nước mắt với lòng say mê : sống, học tập , và phục vụ Quân đội nhân dân
Việt Nam mà tôi đã xác định – suốt đời khi đã là một học viên khóa đầu tiên của
học Viện K T Q S hôm nay từ khi rời quân chủng Hải quân từ ven bờ Hạ Long về trường đại học /
Nhận xét
Đăng nhận xét