ĐẠI HỌC KỸ THUẬT QUÂN SỰ V N KHÓA 1--C213
Kỹ sư Quân Sự trên chiến trường Miền Nam ___ Lê Tùng Sơn --
Ký ức một thời .
Những năm cuối thập kỉ sáu mươi thế kỉ
trước, mỗi khi có trận đấu của đội bóng đá Sao đỏ trên sân trường hay sân Vĩnh
yên đều chật kín khán giả. Mọi con mắt đều đổ dồn về “bộ ba tam giác quỷ”:
Khoa-số 6, Nam số 8 và Tùng Sơn số 10. Mỗi khi bóng đến chân Số 10 Tùng Sơn là
lưới của đội bạn lại chuẩn bị rung lên…Nói như vậy để độc giả phân biệt Tùng
Sơn, Thanh Sơn, Công Sơn cả ba đều học ở lớp ô tô xe xích đại đội 213 khóa một
Trường ĐHKTQS.
Tháng 9/1971 khóa một
ra trường, hơn 150 con người tỏa ra mọi nẻo đường của Tổ quốc để làm nhiệm vụ
của người kĩ sư quân sự, một số đã được điều động vào BTL 559 về các binh trạm,
một số ở lại trường làm nhiệm vụ giảng dạy, còn lại được phân công về các cơ
quan đơn vị trong toàn quân.
Xin được góp vài mẩu
chuyện từ những năm tháng công tác nhằm góp thêm tư liệu cho lớp 213 của chúng
ta.
***
( Đấy là những năm cuối trên đất Vĩnh Yên trước khi hội đồng quốc
gia mở ra cho kỳ bảo vệ luận án tốt
nghiệp của C213 )
Những dòng viết thêmcủa Đỗ Đăng
Đích .
Những năm cuối của Khóa học . Thủ môn nổitiếng Đội tuyển Bóng đá V.N __
Thủ môn Đức __ đã về trường với quân hàm Thiếu úy và làm công tác thể thao thể
dục của Nhà trường trên Hiệu bộ bấy giờ .
Những nămđang còn đi thực tế
tại các cơ sở Công nghiệp quốc phòng toàn quân , chiếc xe 3 bánh đã đưa đón
chúng tôi rải rác về sân trường để đá giải Nhà trường , và chúng tôi là tiền
thân đội chân giầy của Đại học Kỹ Thuật Quân Sự khi đó .
Thực ra sức mạnh của đội ở hang
tấn công là bộ 3 đã kể , còn hang phòng vệ chắc trái
__ Đỗ Ngọc Lan , Trung vệ giữa phải __ Đõ Đăng Đích . chúng tôi đá với đôi hình
4-2-4 . cũng đủ để chũng tôi chinh chiến trên sân cỏ và thu hút người xem ham
mộ chúng tôi .
Những kỷ niệm như một giai
thoại trên sân bóng và có lẽ chỉ Tường này mới có :
Hôm đó Trường tổ chức đá giải
nhà trường trên sân trường cách Vĩnh Yên 1 km
Trận đấu giữa C213 và C113 .
Trái bóng lật cánh thu hút hang
hậu vệ sang phải làm Ngọc Lan chạy lên phải đón bóng , nhưng quả bóng qua đầu
hai trung vệ bay đến trước khung tgỗ không có lưới chỉ có vạch ngang . Trung vệ
Đích vội vàng chạy về sứu nguy và bằng cú phá bóng bằng mà ngoài chân phải đã
tung quả bóng ra biên , khi nó đang nẩy từ ngoài vạch giới hạn cầu môn chưa
chạm đất . quả phá bóng bay nửa nâye này , do tọng tài không theo kịp cú tấn
công của C113 thổi còi cho ghi bàn thắng
.
Tùng Sơn từ trên sân đội bạn
chạy về hỏi tôi : Vào chưa ? Tôi gắt lên : vào đâu mà vào ! nhưng trrọng tài vẫn quyết cho một bàn vào
khung gỗ .
Tất cả chúng tôi : Bỏ về .
không đá nữa . Và như vậy giải bóng đá cũng bế mạc không kèn trồn . Thế đó .
Tôi còn nhớ mãi những quả thành bàn thắng do
Tùng Sơn đá vào , đều từ “góc chết “ với cú sút mà ngoài căng làm bóng bay vào
ngay sát cột của góc ngay đó ___ cũng đã xem nhiều những cú sút thành bàn , kể
cả của danh thủ anh quốc , Tây ban nha , Đức ,Ý ,CCCP , tôi chưa thấy bàn thắng
nào được ghi nhận như của Tùng Sơn Đá vào từ góc chết đó !
Có lễ Bộ quốc
phòng bấy giờ /thương chúng tôi lắm , cho nên : Chúng tôi gặp những bất công và
bỏ đi không cần biết việc gì sẽ xảy ra ; kể cả việc phản ứng giảng viên trong
khi thi vấn đáp bị cho điểm 2 / 5 bất công cũng bỏ trường lớp đi luôn và nhận
cảnh cáo của Chi bộ Đảng .
Những dòng tản mạn trên lại ập
về khi chúng tôi nhớ về mọt thời học viên Trường Dại Học Kỹ Thuật Quân Sự V.N
của chúng tôi .
Tôi xin gợi nghơ chút đỉnh cho đồng đội khác ngành những những điểm
ngoại khóa dễ thương mà nhớ về nhau qua hơn 45 năm xa cách .
*************************
TRÊN
CHIẾN TRƯỜNG
B 2VÀ DỌC TRƯỜNG
SƠN
Trên
Chiến trường B 2 và dọc
Trường Sơn
LÊ TÙNG SƠN
Chuyên thứ nhất: Gặp bạn ở chiến trường
Tôi và Trần Phượng
đang học bổ túc lái xe để lấy bằng ở trường lái xe 255 thì được lệnh về Bộ Tư
Lệnh Pháo binh nhận công tác. Trước khi đi học tôi là khẩu đội trưởng 12,7ly
đại đội 20 Trường Sĩ quan Pháo binh, Trần Phượng là thợ của trạm sửa chữa trung
đoàn 368 BTLPB. Trần Phượng được điều động về làm trạm trưởng sửa chữa xe trung
đoàn 204-BTLPB. Tôi được điều động về làm trạm trưởng sửa chữa xe đi B2-chiến
trường Đông Nam bộ.
Khi đến gặp đồng chí
trưởng ban cán bộ BTLPB để nhận quyết định đi B, cho đến bây giờ tôi cũng không
nhớ nổi cảm xúc của mình, bởi lẽ lúc bấy giờ mọi suy nghĩ hành động của người
thanh niên nói chung và người Đảng viên, sĩ quan nói riêng, việc đi B là một vinh dự là một
việc tất nhiên phải làm không có gì phải đắn đo suy nghĩ…
Tôi được nghỉ phép 15
ngày, về nhà chẵng biết làm gì, nhà tôi ở khu tập thể Công ty vật liệu khiến
thiết Hà nội 17 Hàng Ngang khu Hoàn kiếm, Hà nội các em tôi còn nhỏ đang di học
cấp 1,2 má tôi bận đi bán hàng ở cửa hàng của công ty, ba tôi ở tận Thanh hóa
đang làm giám đốc công ty vận tải lâm sản Tổng cục Lâm nghiệp. Ngày đi vào đợn
vị 675 ở Thanh hóa chỉ có Chúc là vợ của Ngọc Tuấn bạn thân của tôi đi tiễn ra
bến xe Kim liên, lên xe rồi chỉ có vợ bạn là khóc còn mình thì mong sao đến đơn vị sớm.
Đến trung đoàn 675 ở
Triệu sơn Thanh hóa vào buổi tối, đơn vị đóng trong nhà dân bản Mường. Ngày hôm
sau tôi nhận bàn giao trạm sửa chữa xe của trung đoàn đã được tập trung từ
trước chỉ chờ tôi vào nhận bàn giao để đi B2. Trạm xe có 14 chiến sĩ gồm thợ
xe, thợ nguội, thợ rèn và lái xe, trạm có hai xe Vọt tiến chở trang bị dụng cụ,
máy phát điện 10kw…
Đầu tháng 12/1971 trạm
cơ động ra trường bắn 410-BTLPB đề tham gia thành lập đoàn 2047Ađi B2. Đoàn bao
gồm đại đội cối 160 ly do anh Bùi như Lạc làm đại đội trưởng, trạm sửa chữa
pháo do anh Phan thanh Nga làm trạm trưởng, anh Nga cũng học chuyển tiếp C8 ở
trường ĐHKTQS và trạm sửa xe của tôi, toàn đoàn có 12 xe gồm 7 xe Hoàng Hà chở
cối cùng đạn cối 160 ly, 3xe Vọt tiến của trạm pháo và 2 xe của trạm xe. Chúng
tôi ở tại 410 hơn 10 ngày để củng cố tổ chức, làm dàn ngụy trang cho xe, bảo
dưỡng xe lần cuối. Mỗi xe đều được che chắn buồng lái ở trên nóc và hai bên cánh
của bằng phên tre, nứa. Chúng tôi phải gửi lại tất cả giấy tờ tùy thân để biến
thành chiến sĩ quân giải phóng miền nam…
Ngày 16/12/1971 chúng
tôi hành quân về phía nam, lúc này Mỹ đã tạm ngừng ném bom từ vĩ tuyến 38 trở
ra nên chúng tôi được hành quân trên quốc lộ một. Hành quân trên đường, với lá
cờ nửa đỏ nửa xanh cắm ở đầu xe, thỉnh thoảng gặp một đoàn tàu chở bộ đội đi
cùng hướng, hai bên reo hò vẫy tay cùng hát vang những bài ca giải phóng. Có
lúc gặp những bà mẹ, cô gái đang cấy lúa bên đường họ ngửng đầu lên giơ tay vẫy
vẫy và kéo vạt áo lau những giọt nước mắt…tôi chợt nghĩ cũng may mà mình chưa
có vợ chưa có người yêu…
Đến Cự nẫm Quảng bình
chúng tôi dừng lại củng cố đội hình, kiểm tra xe máy, tôi cùng anh Minh trưởng
đoàn đi vào Bộ tư lệnh 559 để xin lệnh hành quân, gặp bác Đồng sĩ Nguyên Tư
lệnh 559 động viên và trực tiếp kí lệnh hành quân tôi cũng thấy phấn chấn trong
lòng và chỉ mong chóng tới mặt trận. Đoàn chúng tôi tiếp tục hành quân với đội
hình đại đội cối 160 ly với 7 xe Hoàng Hà đi đầu, anh Minh đoàn trưởng đi cùng, Trạm pháo đi
giữa gồm 3 xe Vọt tiến và tôi đi cuối
cùng với 2 xe Vọt tiến, tôi đảm nhiệm tham mưu trưởng hành quân có nhiệm
vụ giải quyết mọi sự cố hỏng hóc dọc đường.
Đường hành quân trên
Trường sơn sách báo tài liệu nói nhiều rồi, tôi đã trải qua và nếm đủ. Từ leo
đèo lội suối với những hàng tiêu dẫn đường bằng vải trắng, từ những đoạn đường
được lót bằng những cây cừ cho tới vượt qua những trảng trống..,Từ những đêm đi
bằng đèn ống bơ dưới ánh sáng của pháo sáng và tiếng ầm ì của máy bay C130,
cùng những loạt cối 40 ly trên máy bay bắn xuống mà anh em trường sơn gọi là
‘xin thùng” đến những lúc vượt qua trảng trống với tiếng gầm của máy bayL19
đuổi theo và cả những tiềng ầm ầm của bom tọa độ do máy bay F105 ném xuống…Có đêm
chỉ đi được 3km, sáng ra nhìn hố nước mà mình đã uống đêm qua thì thật kinh hãi
bởi phân thú rừng đã ỉa từ lúc nào…
Đến binh trạm 32 đoàn
chúng tôi bị ném bom, cháy mất 2xe CA30 của đại đội cối, nhìn xe cháy, đạn nổ
mà chẳng làm gì được. Đến khu vực trú quân
lại bị một trận bom nữa, tốp đi đầu vừa đến trạm chưa kịp đưa xe vào
mang cá thì bị bom, anh em chạy sơ tán vào rừng, anh Minh trưởng đoàn bị thương
nặng và hai ba chiến sĩ nữa cũng bị thương, lửa cháy ngùn ngụt tiếng rít cua
máy bay còn trên đầu, tôi và hai chiến sĩ của trạm xe (Tín và Thạnh) chạy lên
đập cửa kính đấu tắt khóa điện lái mấy chiếc xe ở ngoài bãi trống vào mang cá
tránh lửa bén tới. Trời sáng hẳn mọi người mới trở về xe để tiếp tục hành quân,
anh Minh và các chiến sĩ bị thương phải vào trạm cứu thương của binh trạm để
trở ra Bắc. Cũng từ hôm đó một vài chiến sĩ đã nao núng tinh thần có ý đào ngũ,
và đúng như vậy có hai chiến sĩ đã trốn khỏi đội hình đơn vị.
Cuối
năm 1971 đầu năm 1972 đường Trường sơn nhộn nhịp hẳn lên bởi ngoài tuyến vận
tải nội bộ của Đoàn 559 còn có các đoàn hành quân đi thẳng vào chiến trường
B2,B3 tiêu biểu là đoàn 571 của Cục Hậu cần Miền(B2), trong đó có đoàn 2047A
của tôi. Theo quy định của Tư lệnh 559 xe cuả
559 phải nhường đường cho các đoàn đi thẳng.
Đến binh trạm 38 một điều bất ngờ ập tới
với tôi: gặp Công Sơn. Lê công Sơn người Nghệ an, cùng tiểu đội học viên, học
giỏi, tính trầm ít nói, ít tham gia hoạt động ngoại khóa văn nghệ thể dục thể
thao, Sơn được điều đi B vào đoàn 559 trước tôi hơn một tháng. Ai ngờ hôm nay
gặp nhau ở chiến trường mừng khôn tả. Gặp nhau ôm nhau mừng rỡ rồi hai thằng
chui xuống gầm xe nằm nói chuyện thâu đêm tới sáng. Cho đến bây giờ tôi không
thể nào quên những giờ phút gặp bạn đó, đêm không trăng nhưng đầy sao, yên tĩnh
không bị lũ C130 quấy rầy, có lẽ chúng biết hai thằng bạn học của trường ĐHKTQS
gặp nhau nên không dám đến khu vực này đánh phá. Thôi thì đủ chuyện trên trời dưới biển chúng tôi kể cho
nhau nghe, Sơn có người nữ bạn học từ thời phổ thông yêu hay chưa thì không biết,
nhưng hắn nói Trâm(tên người bạn Sơn) đã thầm yêu cậu ta. Xin được trích một
đoạn nhật ký của Sơn về cuộc gặp đó (đã được Hà em gái Sơn cho phép trích): “Chiều hôm qua, giữa Trường Sơn đất lửa, tôi đã
gặp lại Tùng Sơn, người bạn thân yêu của tôi. Đang nằm trong căn nhà dã chiến
lợp ni lông, tình cờ đứng dậy đi ra ngoài, Tùng Sơn gọi sửng sốt
"Sơn!". Thế là tôi nhảy ào tới siết chặt bạn trong niềm vui
sướng.Chiều tối lại chỗ Tùng Sơn chơi cách 2 km. Tối đến trải bạt xuống đất,
mắc màn và ôm nhau tâm sự đến hơn 1h sáng mới ngủ thiếp đi trong niềm vui gặp
bạn.
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miền Nam. Bạn đang còn đi xa hơn tôi nhiều vì tôi mới chỉ đi đến vĩ tuyến Quảng Đà, còn Tùng Sơn đi vào B2. Thế là 3 thằng Sơn đều vào chiến trường cả.Nằm tâm sự, Tùng Sơn đã kể về gia đình mình, vui nhất là điều mong muốn của mình được thực hiện: ba mẹ và các em đều khoẻ. Em Hà được vào học sư phạm 10+3. Tình hình gia đình như vậy là rất tốt, chỉ còn mình lo công tác cho tốt nữa thôi.”
Tùng Sơn! Người bạn thân yêu của tôi cũng đã lên đường vào giải phóng miền Nam. Bạn đang còn đi xa hơn tôi nhiều vì tôi mới chỉ đi đến vĩ tuyến Quảng Đà, còn Tùng Sơn đi vào B2. Thế là 3 thằng Sơn đều vào chiến trường cả.Nằm tâm sự, Tùng Sơn đã kể về gia đình mình, vui nhất là điều mong muốn của mình được thực hiện: ba mẹ và các em đều khoẻ. Em Hà được vào học sư phạm 10+3. Tình hình gia đình như vậy là rất tốt, chỉ còn mình lo công tác cho tốt nữa thôi.”
Vậy
là 3 Sơn của B5 đã vào chiến trường: Thanh Sơn và Công Sơn vào 559 còn tôi vào
B2 Đông Nam bộ. Sơn
nhất quyết sau khi chấm dứt chiến tranh sẽ đi học tiếp, lấy cho được bằng phó
tiến sĩ. Đúng như Sơn nói sau này khi đã về làm phó phòng quản lý sử dụng Cục ô
tô máy kéo, anh ta vài lần đi thi nghiên cứu sinh nhưng rất không may đều
trượt. Trượt về mơ ước học vấn phải chăng làm cho cuộc đời Sơn gặp không may về
nhiều chuyện khác về gia đình riêng, rồi kết cục mà năm 2006 khi tôi nằm cùng
viện 175 với Sơn thì Sơn trút hơi thở cuối cùng vì bạo bệnh. Lúc mất Sơn là Đại
tá chủ nhiệm kho J250 Cục oto máy kéo-TCKT.
Cuối năm 1972 lúc đó
tôi vẫn là trạm trưởng sửa xe thuộc Đoàn Pháo Biên hòa chiến trường miền đông
Nam bộ. Gặp anh Trần Ba lớp chuyên tu 221 trong một hoàn cảnh đặc biệt: nồi
cháo ong thấm bom tọa độ. Hồi
ấy sau một đêm hành quân chuyển cứ về “đồi Tám cách mạng”(một địa danh bên đất
CPC tỉnh Krache), gần sáng thì tới vị trí đóng quân. Tôi ra lệnh cho đơn vị
nhanh chóng triển khai đào hầm trú ẩn, mọi người nhanh chóng dỡ phụ tùng dụng
cụ xuống xe, phủ bạt và phân nhau đi đào hầm. Hầm chỉ huy do tổ thợ rèn của
Nguyễn thế Hệ đào. Dáng người to khỏe, cao lớn, Hệ cuốc từng nhát phầm phập mặc
dù mùa khô bên đất CPC đất rất cứng như sỏi đá. Bỗng đâu những tiếng ù ù ù vang
đến và trời đất như tối sầm lại…cố gắng định thần mọi người thấy một đàn ong
mật vô vàn con đang ào ào xông tới đốt túi bụi…Thế là mạnh ai người ấy chạy,
tôi cùng y tá Hùng mải miết chạy và chạy, đằng sau đàn ong vẫn uốn lượn đuổi
theo, cổ và tay đã được nêm vài mũi chích rồi. Chạy được vài cây số thì may
thay chúng không đuổi theo nữa, định đốt đống lửa để đề phòng thì nghe thấy
tiến vè vè của máy bay trinh sát OV10 trên đầu, thế là đành phải ngồi trong
bóng cây chịu trận. Khát và đói nhưng chăng làm được gì bởi “cứ”(tức là mơi
đóng quân) thì ong đã chiếm mất rồi. Trời tối anh em chúng tôi lục tục trở về
cứ, bấm đèn soi thì thật bất ngờ: tổ ong dài gần 2 mét to bằng cái bàn làm
việc. Hệ và mấy chiến sĩ đốt đuốc xông khói bắt bằng được tổ ong nọ. Một nồi
hai mươi mật và hai nồi con ong bắt được. Đêm ấy chung tôi nấu một nồi cháo ong
ăn bù cho một ngày bận bịu vất vả, chưa kịp vào mâm thì thật bất ngờ: anh Trần
Ba tới. Anh
Trần Ba là học viên chuyên tu lớp 221 ra trường cùng cuối năm 1971, đi chiến
trường theo đường bộ vào miền Đông Nam bộ công tác tại phòng quân giới miền
(phòng 4), nghe tin tôi đã vào chiến trường anh lặn lội xuống thăm. Thời bấy
giờ ở B2 quãng đường tính bằng giờ đi bộ chứ không tính bằng km, từ chỗ anh tới
tôi đi mất 5 giờ. Gặp nhau mừng vui khôn tả, hỏi thăm bạn bè, đồng đội và ôn
lại những ngày còn ở nhà tầng Vĩnh yên…Lúc nồi cháo được bưng ra tôi kể cho
anh nghe về trận tấn công của bầy ong mà
mọi người trải qua giờ mới có thành quả là nồi cháo. Bỗng “ào, ào” chỉ kịp nghe
tiếng xé không khí của máy bay F105 bay qua thì chúng tôi đã nằm gọn trong hầm
và “ầm ầm” hai quả bom “tọa độ” đã nổ cách chúng tôi khoảng vài chục mét. Đêm
miền đông lại tĩnh lặng, chúng tôi lên khỏi hầm để tiếp tục cuộc chén thì ôi
thôi nồi cháo đã bay mất rồi, mùi cháo còn thơm lừng với những vụn cháo vương
vãi đâu đó dưới ánh đèn pin. Cũng may mà còn được một bi đông mật để đãi anh
Trân Ba.
Bây giờ có nhiều cuộc
vui với nhiều món sơn hào hải vị, nhiều thức uống cao cấp đắt tiền, nhưng với
người lính chẳng có món nào ngon hơn tình đồng chí đồng đội, đó là điều mà
không có gì có thể mua được và cũng không dễ gì có được nếu không nếm trải gian
khổ nơi chiến trường.
Giữa Năm 1973 bất ngờ tôi lại được gặp tiếp hai
thày trò của lớp xe: Anh Bùi thức Hưng và Đỗ thành Hưng. Anh Bùi thức Hưng là
giáo viên dạy chúng tôi về kết cấu oto Hồi còn ở trường anh em rất thân nhau,
anh học khóa 7 Bách khoa chuyển sang làm giáo viên của trường, tính tình điềm
đạm cởi mở và rất tận tình với học trò. Với những học viên có biệt tài đá bóng
như tôi anh càng ưu ái. Không ngờ được gặp anh tai chiến trường Đông nam bộ
những ngày sôi động sau hiệp định Pari thật vui mừng hết xiết, thật tiếc nghe
đâu anh bị tai nạn xe trong khi đi công tác lên biên giới phía Bắc trong cuộc
chiến 1979. Đỗ thành Hưng quê Hưng yên,
học khóa đầu trường Nguyễn văn Trỗi, được tuyển thẳng vào Đại Học KTQS, học
giỏi, sau khi tốt nghiệp được phong quân hàm Chuẩn úy và được phân công về Bộ
tư lệnh Tăng Thiết giáp. Khi đi B2 là đại đội trưởng sửa chữa trung đoàn tăng
tăng cường cho đoàn M26 Bộ Tư Lệnh miền. Hai thằng gặp nhau ở trạm xăng dầu Lộc
ninh, lúc tôi đang chuẩn bị đi phục vụ chiến dịch Phước long. Cùng tiểu đội nên
tôi còn nhớ nhiều kỉ nhiệm về Hưng. Sau này khi giải phóng miền Nam, Hưng về
Quân khu 9 sau đó về lại QK7 làm trưởng phòng tăng Cục kĩ thuật rồi về hưu sớm
do hoàn cảnh gia đình. Hiện giờ thỉnh thoảng vẫn gặp nhau trong cảnh sức khỏe
giảm sút nặng nề: Hưng đã đặt 5 Stel trong mạch vành tim…
Khi về căn cứ Bà chiêm
Tây ninh tôi gặp bạn Trân Phượng. Trân Phượng cùng tiểu đội và cùng “tổ tam
tam”, anh ta có câu nói nổi tiếng: “Tắm nhiều làm gì cho nó nhão thịt” vì bản
chất của anh ta rất lười tắm, hai chân “eechdima” lúc nào cũng gãi sồn sột hầu
như anh nào của B5 cũng đều nhớ cả. Phượng về BTL Pháo binh cùng tôi, về làm
trạm trưởng sửa xe trung đoàn 204, khi đi B2 thì đã làm trợ lý xe trung đoàn
rồi. Gặp nhau hỏi thăm được vài câu rồi chia tay vì trung đoàn 204 đã được điều
động về quân đoàn 4(lấy phiên hiệu là 434), sau này khi đi chiến dịch mùa khô
1984 ở CPC tôi còn gặp Phượng ở mặt trận 479, lúc này Phượng là CNKT sư 7/QĐ4.
Phượng sống ngay thẳng thật thà, khi về hưu “hoàn cảnh” đến mức phường Linh
trung quận Thủ đúc TP HCM phải xây tặng cho một căn nhà tình nghĩa. Lần cuối
cùng gặp nhau là ở bệnh viện 175, tôi đi điều trị mạch vành tim còn Phượng bị
ung thư hạch, năm 2006 Phượng qua đời trước Công Sơn vài tháng.
Gặp nhau trong chốc
lát, mừng vui rồi chia tay ai về đơn vị nấy. Tôi tiếp tục chỉ huy đơn vị đi sửa
chữa xe phục vụ các chiến dịch cho tới khi giải phóng miền nam 30/4/1975.
Sự đời thật trớ trêu,
khi còn thanh xuân vui vẻ và tếu táo, khi về già gặp nhau trong bệnh viện vẫn
coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ba thằng cùng tiểu đội lại góp phần phong phú
thêm cho khoa A1 bệnh viện 175…
Tôi gặp bạn trong lớp
khá nhiều, song bốn bạn gặp ở chiến trường thì đã mất hai rồi. Vẫn biết sinh có
hạn tử bất kì, người ta chỉ chữa được bệnh chứ không chữa được mệnh, nhưng mỗi
khi nhắc đến lớp đến trường thì những kỷ niệm vui buồn đều nhớ đến người đã
khuất dù rằng bản thân tôi cũng mắc nhiều chứng bệnh nan y. Cũng vì vậy mà dù
không biết viết văn tôi vẫn cố ít dòng mong sao cho thế hệ học viên đi sau biết
cha anh chúng đã sống và đối nhân xử thế như thế nào; để rồivững bước trên
đường xây dựng ttỏ quốc quê hương trong thời đại mới hôm nay . ./
Ảnh ghi trên Bắc Giang , Sài gòn 2012,NamĐịnh 2012 và
Ảnh truyền thống , kỷ niêm .
*************************************
Chuyện thứ hai: Sửa xe M113 dưới pháo sáng
Sau thắng lợi chiến
dịch Lộc ninh, cuối năm 1972 quân giải phóng mở chiến dịch Bình long nhằm cắt
đứt đường 13 mở rộng vùng giải phóng chờ thời cơ tiến về Sài gòn.
Để phục vụ chiến dịch,
trước đó trạm xe của tôi đã đi sửa hết một vòng các đơn vị trong Đoàn pháo Biên
hòa. Khi học ở trường tôi hay nói vui với các bạn: mình được đào tạo để “cái gì
cũng biết, nhưng chẳng biết cái gì cả”. Ra trường tiếp xúc với thực tế nếu biết
vận dụng “cái gì cũng biết” với tinh thần cầu thị không dấu dốt, sẵn sàng học
hỏi và xắn tay áo lao vào làm với anh em thợ, những người thợ lành nghề thì sẽ
“biết làm” và biết chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ. Trời phú cho tôi cái
tính hòa đồng và điều quan trọng hơn cả là trong chiến tranh gian khổ ác liệt
cận kề với cái chết thì tình thương yêu đồng đội còn quý hơn cả cái gọi là trên
dưới, sĩ quan và binh lính…Vì vậy trạm của tôi đã luôn hoàn thành nhiệm vụ trên
giao, cũng có chiến sĩ bị thương nặng trong chiến dịch Lộc ninh(cậu Phương bị
bom ở cầu Cần lê trên đường 13), nhưng tinh thần vẫn không nao núng.
Chiến dịch Bình long
lực lượng pháo chiến dịch chủ yếu là lựu pháo 105,pháo chống tăng 85 các loại
DKZ, cối 160,120…Đặc biệt ta thu được một số pháo 155ly của địch, không có xe
kéo phải dùng xe M113 thu được của địch để kéo pháo. Những trận đánh đang diễn
ra ác liệt thì một xe M113 trên đường ra trận địa bị hỏng. Không có xe kéo pháo
thì quả là một điều khó khắc phục bởi pháo 155 nặng tới gần 5 tấn.
Tôi đang ở căn cứ của
trạm và mới trải qua một trận sốt rét thừa chết thiếu sống, nhiệt độ lên tới
41,2 độ, trời nắng chang chang nhưng vẫn trùm chăn ngồi cạnh đống lửa . Ai đã ở
chiến trường đều hiểu sốt rét là thế nào, nóng hầm hập nhưng vẫn lạnh run
người, miệng khô môi nẻ cơm không ăn cháo không màng chỉ thèm dâu da rừng…muốn
đứng dậy phải hai tay hai gậy chống…Có lẽ bài học vỡ lòng và chuyên sâu của
người lính ở chiến trường là sốt rét. Đang nằm trên võng thì liên lạc của Phòng
hậu cần gọi tôi lên Phòng nhận nhiệm vụ gấp. Tôi vơ vội quần áo tăng võng bỏ
vào bồng và gọi Hệ hộ tống tôi trên đường về phòng Hậu cần.
Anh Khanh trưởng phòng
hậu cần Đoàn pháo Biên hòa giao nhiệm vụ cho tôi đi sửa cái xe M113 ấy. Anh
nói: “Tôi báo cáo với Tư lệnh pháo binh, tôi chỉ còn dự trữ một kĩ sư duy nhất,
nay tung ra rồi, Tư lệnh yên tâm, sẽ có xe kéo cho pháo 155ly”.
Tôi chỉ thị cho Hệ đi
sang cánh Bắc gọi Tín là thợ xe chủ lực của trạm về vị trí xe M113T(Tín học ở
trường trung cấp Bộ nông trường, tay nghề rất giỏi) Gần tối chúng tôi gặp nhau
ở trong một khu rừng dầu nơi chiếc xe M113 nằm chình ình một đống. Hỏi Hẩu lái
xe tình trạng xe thế nào, anh ta bảo xe chạy đến đó vướng gốc cây không chạy
được, tắt máy xong lên nổ lại thì không khởi động được. Hỏi không khởi động
được như thế nào thì anh ta trả lời mỗi khi ấn nút nó chỉ kêu lạch cạch lạch
cạch. Tôi bàn với Tín có hai khả năng: bình điện yếu hết điện hoặc khởi động có
vấn đề. Tín dung hai sợi dây dẫn đấu vào hai cực bình điện quệt thử thì tia lửa
rất mạnh. Đoán là nguyên nhân từ khởi động.
Hai anh em chui vào
buồng máy, máy xăng hình chữ V giống động cơ Zin130 của ta. Sờ tìm khởi
đông…Không thấy đâu. Trời tối chỉ có sao không có trăng, trên đầu máy bay OV10
vè vè, máy bay C130 ầm ì thả pháo sáng, thỉnh thoảng nó quăng vài quả cối 40ly
vu vơ…Vai tiếng đồng hồ trôi qua, nếu không sửa xong xe trước trời sáng thì sẽ
ảnh hưởng tới quyết tâm chiến đấu của người chỉ huy. Máy bay vẫn gầm rú trên
đầu pháo sáng soi rõ hai khuôn mặt đầy dầu mỡ pha chút lo lắng.Tôi chợt nghĩ
sao không chui xuống gầm thử tìm xem, hai anh em chui xuống dưới gầm xe, mặc
cho bùn đất lấm lem quần áo mặt mũi, mỗi người một đầu gầm khảo sát. Bổng tôi
thấy một vành bu long bắt chặt một cái
nắp tròn bằng cái mâm đồng ăn cơm, tôi gọi Tín bò lại và chỉ nó rồi bảo Tín
tháo cái mâm này ra. Điều vui mừng tới bất ngờ bởi cái khởi động bằng con lợn
con nằm chình ình ra đó…Tín nhanh chóng tháo và chùi hai đồng xu khởi động, chỉ
vừa kịp vặn buloong cuối cùng của nắp
chắn tôi đã bảo Hẩu lái xe nổ máy. Tiếng máy nổ rền vang trong tiếng reo vui
của mọi người…
Bây giờ kể ra chuyện này có thể ai cũng
thấy ngô nghê, lạc lõng quá tầm thường nhưng lúc bấy giờ trong hoàn cảnh chưa tiếp
xúc với xe hệ hai bao giờ, lại thêm máy bay quần đảo trên đầu, thời gian gấp
gáp, việc tìm thấy cái khởi động cũng là một niệm vui cho anh em tôi rồi, quan
trọng hơn là hoàn thành nhiệm vụ có xe để kéo pháo. Đến lúc ấy chúng tôi mới
thấy khát và đói. Cho đến bây giờ kỷ
niệm về “cái khởi đông M113” vẫn rõ mồm một trong tôi, bài học ở trường là
phương pháp, là tư duy, còn bài học ở đời là sự vận dụng là quyết tâm, là sự
bình thản trong mọi tình huống.



Nhận xét
Đăng nhận xét